28 tháng 12, 2025

“chỉnh chu” hay “chỉn chu?”_Nguyễn T Thanh Truyền

 





Tóm tắt Trong các tình huống nói năng hàng ngày, chúng ta thường sử dụng "chỉnh chu" và "chỉn chu". Tuy nhiên, từ "chỉnh chu" hoàn toàn không có trong từ điển. Còn "chỉn chu" có nghĩa là "chu đáo", "cẩn thận", "không chê trách gì được". Sau khi phân tích ý nghĩa của "chỉnh chu", chúng tôi tin rằng nó đã được sử dụng hợp lý và đúng nghĩa. Và đã đến lúc "chỉnh chu" nên được chính thức thừa nhận và có một chỗ đứng "hợp pháp" trong tiếng Việt. Từ khóa: ngôn ngữ chuẩn; phát âm Nam bộ; phân tích từ vựng; ngữ nghĩa.

 1. Đặt vấn đề Nhà ngôn ngữ học người Pháp gốc Thuỵ Sĩ Charles Bally viết:
 “Ngôn ngữ ngày mai được chuẩn bị trong một loạt những cái sai của ngôn ngữ ngày hôm nay”. Điều này có nghĩa là những cái dùng không đúng của ngày hôm nay nhưng cứ lặp đi lặp lại và được cộng đồng chấp nhận thì ắt hẳn nó sẽ thành đúng và được sử dụng rộng rãi. Đó cũng là điều tất nhiên vì ngôn ngữ luôn vận động và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội. Ở đây, chúng ta quay lại vấn đề then chốt, đó là sự tồn tại của hai từ “chỉn chu” và “chỉnh chu”. Hằng ngày chúng ta đã chứng kiến rất nhiều trường hợp dùng cả hai từ này, nhưng từ nào mới là chuẩn, là đúng? Hay là hai từ đều tồn tại song song và đều có ý nghĩa như nhau.

 2. Nghĩa từ điển của “chỉn chu” và “chỉnh chu”
 Để hiểu rõ hơn về hai từ này, chúng tôi đã lần tìm trong một số từ điển: Lê Ngọc Trụ(1993), Tầm Nguyên tự điển Việt Nam, NXB thành phố HồChí Minh; Thanh Nghị(1958), Từ điển Việt Nam, NXB Thời-Thế, Sài Gòn; Đào Duy Anh (1957), Hán Việt từ điển, NXB Trường Thi, Sài Gòn; Hoàng Phê (2007), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.

Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê (2007) định nghĩa “chỉn chu” như sau: “chỉn chu” chu đáo, cẩn thận, không chê trách gì được: quần áo chỉn chu, tính toán rất chỉn chu. Vậy theo từ điển Hoàng Phê, “chỉn chu” dùng để chỉ những con người ngăn nắp, có nề nếp, kĩ lưỡng. Ví dụ: “anh ấy là người chỉn chu”, “chị ăn mặc chỉn chu như vậy thì làm sao hợp với bầu không khí dạ hội như thế này” v.v.
 Còn “chỉnh chu” hoàn toàn không có trong bốn cuốn từ điển trên.

 3. Phân tích nghĩa của “chỉnh” và “chu”
Như trên thì rõ ràng trong từ điển không có “chỉnh chu”, vậy tại sao chúng ta vẫn nghe từ này tồn tại trong đời sống hằng ngày? Có người nghe tới “chỉnh chu” thấy lạ hoắc, còn có ý kiến thì cho rằng làm gì có “chỉn chu”. Chúng ta dựa trên nguyên tắc phân tích từ trong ngôn ngữ học để giải thích trường hợp người dùng “chỉnh chu” là có cơ sở. 
      
      Trước hết chúng ta xét từ  “chỉnh” theo định nghĩa của từ điển: 

(1) Chỉnh: sửa cho ngay, cho đúng: chỉnh đốn, chỉnh tề, chỉnh trang... (Tầm Nguyên tự điển Việt Nam).

(2) Chỉnh (không dùng một mình): ngay, cân, đều, thứ tự (Từđiển Việt Nam).
       - Chỉnh đốn (đt): sửa sang, sắp đặt lại cho có thứ lớp (chỉnh đốn việc hương thôn).
       - Chỉnh nghi (đt): sửa sang cho được sáng sủa, oai phong.
       - Chỉnh tề (tt): ngăn nắp, gọn gàng, đâu ra đấy.
       - Chỉnh tu (bt): tu chỉnh, sắp đặt, sửa lại. 

        Và hàng loạt những từ ghép khác gần nghĩa như: chỉnh lý, chỉnh sức, chỉnh túc, chỉnh trang...

         (1) Chỉnh: nguyên thể, hoàn toàn có thứ tự, ngay ngắn, cân xứng (Hán Việt từ điển).
       - Chỉnh bị: chỉnh đốn cho sẵn sàng. 
       - Chỉnh dung: sửa sang dung mạo cho gọn.
       - Chỉnh đốn: sửa sang, sắp đặt cho chỉnh tề. 

         Và những từ gần nghĩa như: chỉnh lý, chỉnh nghi, chỉnh sức, chỉnh tề, chỉnh túc, chỉnh vũ... cũng có nghĩa là sửa sang, sắp đặt lại cho gọn.

       (2) Chỉnh: theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê thuộc hai lớp từ loại là tính từ và động từ: cân đối, có trật tự hợp lí, đúng quy tắc giữa các thành phần cấu tạo: đối câu rất chỉnh.

       - (đg) sửa lại vị trí, tư thế cho ngay ngắn, cho đúng: chỉnh lại đường ngắm, chỉnh lại tư thế ngồi trước khi chụp ảnh. 

       Và các từ ghép có yếu tố “chỉnh” như: chỉnh đốn, chỉnh hình, chỉnh huấn, chỉnh lí, chỉnh lưu, chỉnh sửa, chỉnh tề, chỉnh thể, chỉnh trang... 

        Vậy, như trên đã tìm hiểu, chúng ta thấy rằng từ “chỉnh” là một từ có khả năng tồn tại độc lập (là thực từ) thuộc hai lớp từ loại: động từ và tính từ. Thứ đến, chúng ta thử đi tìm nghĩa của từ “chu” và xem nó có khả năng vận dụng độc lập hay không.

       (1)  Trong Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “chu” thuộc hai lớp từ loại là động từ và tính từ.
      - (đg) chúm môi lại và dẩu ra phía trước.
      -(t) [khg] đầy đủ và đạt mức yêu cầu, có thể làm cho yên tâm, hài lòng: được thế này là chu lắm.

       (2) Trong Tầm nguyên từ điển, “chu”có nghĩa là “giáp vòng”, “vây xung quanh”.

        (3) Trong Từ điển Việt Nam, “chu” có nghĩa là “quanh khắp” và cũng được đọc là “châu” (châu vi).

      (4) Trong Hán Việt từ điển, “chu” cũng có nghĩa là vòng xung quanh hình tròn (chu báo, chu kỳ, chu lưu, chu san) và cũng có nghĩa là đến nơi đến chốn (chu đáo, chu toàn, chu tất...)

Như vậy, “chu” ở đây có nghĩa là một cái gì đó toàn vẹn, tròn trịa, cẩn thận, đạt đến mức làm cho người ta cảm thấy hài lòng, không để sơ suất. Từ này cũng có khả năng vận dụng độc lập nếu dùng trong khẩu ngữ: “Được thế này là chu lắm”(Hoàng Phê, Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.226).

4. “Chỉnh chu”, đúng hay sai?

        Theo phân tích ý nghĩa của từ “chỉnh” và “chu” như trên, chúng tôi thấy rằng dùng từ “chỉnh chu” (thay vì “chỉn chu”) là không sai và hoàn toàn có cơ sở. 
      “Chỉnh chu” trường hợp này rõ ràng là một từ ghép đẳng lập với hai tính từ “chỉnh” và “chu”, cũng có thể so sánh như các trường hợp: “ăn ngủ”, “đi đứng”, “cười nói”... vậy. 

       Chỉnh (tt) (cân đối, có trật tự hợp lí, đúng quy tắc...) + chu(tt) (toàn vẹn, tròn trịa, cẩn thận, đạt đến mức làm cho người ta cảm thấy hài lòng, không để sơ suất) = chỉnh chu. 

       Chúng ta vẫn thường nghe một số cách nói như: “Anh ấy trông thật chỉnh chu”, “anh ấy là nguời chỉnh chu”.Rõ ràng trong những trường hợp này “chỉnh chu” là tính từ, có nghĩa dùng để chỉ một người kỹ lưỡng, lịch sự, đứng đắn, không chê trách gì được. 

       Và nếu như vậy thì rõ ràng nghĩa của “chỉnh chu” là sự kết hợp nghĩa của “chỉnh” và “chu”. Đối với “chỉn chu”, đây là một từ đã được hợp thức hoá trong từ điển, nó có nghĩa như trên đã đề cập. 

      “Trông cô ấy chỉn chu quá!”, “Anh Nam là người tính toán rất chỉn chu”.

      Và như vậy, có thể nói: “Trông cô ấy chỉnh chu quá!”, “Anh Nam là người tính toán rất chỉnh chu”. 

       Rõ ràng hai từ này cùng để biểu hiện một ý nghĩa giống nhau. Hơn nữa, bàn về mặt từ vựng thì chúng ta cũng nên đề cập đến vấn đề ngữ âm. Âm tiết “chỉn” [cin3] trong phương ngữ Bắc được phát âm bằng một nguyên âm dòng trước. Nhưng trong phương ngữ Nam nguyên âm dịch vào giữa, và được phát âm thành “chửn”. Mặt khác, trong phương ngữ Nam, vần “-inh” cũng được phát âm thành “-ưn” (Hoàng Thị Châu,(2004), tr.182).
 Như vậy trong phương ngữ Nam, vần “-in” và “-inh” được phát âm giống nhau và được phát âm thành ưn”. Trường hợp “chỉn” và “chỉnh” cũng được phát âm giống nhau thành “chửn”. Đây cũng là nguyên nhân hai từ “chỉn chu” và “chỉnh chu” cùng tồn tại song song trong các tình huống nói năng hằng ngày.

 5. Kết luận “Một chuẩn ngôn ngữ cuối cùng có hình thành và thực tế có tồn tại được hay không, là do số đông có thật sự chấp nhận và vận dụng nó hay không trong thực tiễn ngôn ngữ của mình” (Hoàng Phê, 1980).

       Và “chỉnh chu” trong trường hợp này cũng thế, nó được xã hội sử dụng. Thiết nghĩ, “chỉnh chu” đã đến lúc cũng phải được thừa nhận một cách hợp thức hoá như “chỉn chu” và tạo cho nó một chỗ đứng “hợp pháp” trong tiếng Việt. Hơn nữa,ngôn ngữ không phải là một “công trình” đã hoàn toàn bất di bất dịch, mà là một hoạt động đang diễn ra, khi trí tuệ con người làm việc không ngừng nghỉ để thích ứng với âm thanh, chất liệu ngữ âm và sự thể hiện của tư duy. Nó luôn vận động và phát triển không ngừng, chúng ta phải biết chấp nhận khi nó được sản sinh từ những nguồn gốc có cơ sở và mang “gen” của những nguồn gốc ấy, nghĩa là chấp nhận nó một cách có căn cứ. Điều đó góp phần làm cho ngôn ngữ phát triển một cách tự nhiên, làm giàu cho lớp từ vựng và làm cho tiếng Việt ta ngày càng giàu và phong phú hơn.
Nguyễn Thị Thanh Truyền

Ý kiến đọc giả:

1.
Theo hiểu biết của hắn, hắn chọn chữ "chỉnh chu" để dùng hơn là chữ "chỉn chu". Chữ "chỉn" hắn thấy thiêu thiếu cái gì đó. Mà nói thật lòng chữ "chỉn chu" hắn mới biết khoảng chục năm nay, và ngay cả chữ "chỉnh chu" hắn cũng chưa quen dùng vì chữ "chỉnh chu" có sách viết là được gom lại từ hai chữ "chỉnh tề và chu đáo", điều này theo hắn không có nghĩa gì cả khi trở thành một từ ngữ kép "chỉnh chu", nếu nói về ăn mặc hắn thường dùng chữ y phục "chỉnh tề" hơn là 2 cặp chữ kia vì chữ "tề" chỉ trạng thái ngay ngắn, đều đặn, bằng nhau. 
Các bác cùng thời với hắn vào sáu, bảy mươi năm trước, lúc đi học chắc cũng như hắn vì sách giáo khoa của bộ giáo dục miền nam lúc đó không dùng 2 cặp chữ này, nếu có chỉ là dùng là trong khu dân bắc di cư mà thôi, nếu bảo là trong dân gian thì miền nam ngày trước, mười người chưa chắc được một người biết chữ "chỉnh chu" để dùng, mà chỉ dùng chữ chỉnh như "điều chỉnh" chứ không cụt ngũn là "chỉn". Trong giới trẻ ngày nay họ còn dùng chữ thời đại như "chuẩn không cần chỉnh" nghĩa là đúng hết rồi, không cần chỉnh sửa nữa, cũng là một dạng chữ "chỉnh" đẹp, hắn chịu !!!.
Bài viết có đoạn "Nhà ngôn ngữ học người Pháp gốc Thuỵ Sĩ Charles Bally viết:
 Ngôn ngữ ngày mai được chuẩn bị trong một loạt những cái sai của ngôn ngữ ngày hôm nay”.
Hắn hoàn toàn đồng ý với nhà ngôn ngữ học Charles Bally, những cái gì hắn thấy đúng khi hắn đi học ngày trước nay sửa đổi lại mà không phân tích được rõ ràng chữ nghĩa nhưng cứ lập đi lập lại(người miền nam dùng chữ lặp(ă) không phải lập(â) như bắc kỳ hắn) trên báo chí, trên đài truyền hình, trong sách giáo khoa của nhà nước sẽ thành đúng và được xử dụng rộng rãi, những chữ đúng ngày trước trở thành sai. Hắn vừa viết chữ "xử dụng" mà không viết "sử dụng" như phần đông người VN, cũng bắt nguồn từ câu nói trên. 
 Ngày trước, hắn được học, được hội thảo và giảng dạy cho học sinh sự khác biệt của những chữ đồng âm mà trái nghĩa như 2 chữ "xử" và "sử".
"Xử" là động từ, một hành động theo cách nào đó đối với người khác trong một hoàn cảnh nhất định một hành động, thể hiện thái độ đối với người khác trong một hoàn cảnh nhất định.
 Chữ "xử" trong tiếng Việt có nhiều nghĩa
Ví dụ: "xử thế" (cách ứng xử), "xử án" (giải quyết vụ án), "xử nữ" (cô gái chưa chồng),xử tệ với bạn bè, tình huống khó xử, "Xử trí" (giải quyết), "khu xử" (sắp xếp), "xử lý công việc", "xử bắn", "xử tử hình",  "Xử sự" và "xử dụng" (cách dùng, là mode d'emploi), mọi chữ đều viết là "X" không có chữ nào dùng "S" 
Còn chữ "sử" được dùng như Sử sách, lịch sử. “quốc sử”
Lịch sử là nghĩa thông dụng nhất khi ta nói đến chữ "sử" như sách Lịch sử Việt Nam của Trần Trọng Kim ; sách "sử ký" của Tư Mã Thiên.
Cũng do hắn được học và phân tích như vậy nên cho dù bảo là hắn viết không đúng như mọi người, hắn vẫn không thay đổi vì hắn không muốn thua thêm mặt trận văn hóa nữa. Đâu phải là báo chí, đài truyền hình nhà nước viết nhan nhản là "sử dụng",mà không giải thích hợp lý, số đông a dua theo là chuyện của họ, hắn có lý lẽ của hắn, "hắn là cái của hắn là, không là cái của người khác là", đơn giản vậy thôi !!!
 Hắn vẫn dùng chữ "xử dụng" của nền giáo dục VNCH ngày trước. Ai muốn dùng như thế nào thì dùng là quyền của họ, hắn có sai đâu mà bảo là hắn "ngoan cố".
Bài này Chả Quế gởi cho hắn đọc cũng lâu rồi, cũng lười không định gởi đi, vì vừa đọc được một bài viết có nói đến hai chữ này nên hắn phiếm chút chuyện.
 Thỉnh thoảng cũng nói chuyện với vợ về ngôn ngữ 2 miền, vì Chả Quế cũng có lúc là đồng nghiệp với hắn,  được một cái vợ chồng thuận nhau ở điểm này, thuận vợ thuận chồng, ta cùng tát biển đông há em!!! 
Ara

 2.   Từ "chỉn chu" mới xuất hiện sau 30/4/75. Tôi không chấp nhận từ "chỉn chu" nên không bao giờ dùng 2 từ nầy.
   Tôi rất đồng ý với cách giải thích của tác giả về "chỉnh chu" là đúng và hợp lý hơn "chỉn chu". Bây giờ đã có 99% người viết "chỉn chu" rồi, họ chỉ tin vào sách vở miền bắc thì chữ viết sai thành chữ viết đúng, chữ viết đúng thành chữ viết sai, dĩ nhiên số ít sẽ bị loại. Có người lý luận họ chọn lựa cách viết theo số đông không cần biết đúng hay sai, hợp lý hay không hợp lý. Nhưng tôi với Ara thì nhất quyết không làm theo cái sai của họ .
     Chả Quế  


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Đào Duy Anh (1957), Hán Việt Từ điển, NXB Trường Thi, Sài Gòn.
2.Hoàng Thị Châu (2004), Phương ngữ học tiếng Việt,NXB ĐHQG HN.
3.Thanh Nghị(1958), Từ điển Việt Nam, NXB Thời –Thế, Sài Gòn.
4.Hoàng Phê (1980), “Chuẩn hóa tiếng Việt về mặt  từ vựng”, Ngôn ngữ, số 1.
5.Hoàng Phê (2007), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng.
6.Lê Ngọc Trụ(1993), Tầm Nguyên tự điển Việt Nam, NXB thành phố HồChí Minh. 7.Nguyễn Đức Tồn (2013), “Quan điểm mới về chuẩn ngôn ngữ và chuẩn hoá thuật ngữ”, Ngôn ngữ, số1.
8.Bài đã đăng trên Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống,

16 tháng 12, 2025

Nhớ GIÁNG SINH 1976_Phạm Doanh Môn





Nhớ GIÁNG SINH 1976: Một đêm Sàigòn, lời hẹn thề nửa thế kỷ.

(Thương tặng một nửa của tôi: Phương Mai.)


Một mùa Giáng sinh nữa lại về.
Canberra hè nắng nhưng mát dịu,
hương cây thông và nến thơm thoang thoảng,
những giai điệu quen thuộc vang lên khắp nơi.

Nhưng lòng tôi lại quay về Sài Gòn, 1976.
Đêm đông se lạnh, ánh đèn vàng le lói,
đêm thanh vắng, gió thổi nhẹ qua mái tóc.
Người người lặng lẽ, ai cũng mang trong lòng nỗi lo cho ngày mai.

Tôi hẹn Phương tám giờ tối.
Chiếc áo dài vàng mới may, bay theo nhịp bước.
Ánh sáng hắt lên khuôn mặt em,
dáng em thanh thoát như dải hoàng hôn còn vương lại trong đêm.

Tôi nắm tay em, cảm nhận hơi ấm dịu dàng, lòng mềm mại.
Chúng tôi sánh bước qua nhà thờ Chúa Cứu Thế.
Tiếng chuông vang vọng từ xa,
tiếng gió rì rào qua lá cây,
tất cả như hòa cùng nhịp tim trẻ trung, háo hức.


Nhà thờ Đức Bà, hang đá nhỏ, ánh đèn vàng hắt lên tượng Chúa Hài Đồng.
Chúng tôi chắp tay cầu nguyện.
Em thì thầm về tương lai giản dị:
đám cưới mùa hè, những đứa con,
những cái tên đã chọn: Vĩnh Duy, Phương Thư.
Tôi gật đầu, hôn nhẹ lên má em.
Một nụ hôn vội nhưng chứa chan hy vọng.

Trên đường về, phố vắng lặng,
mùi hoa cúc thoang thoảng,
bước chân tôi vang nhẹ trên đường phố im lìm.
Tôi đi chậm, tận hưởng trọn vẹn niềm vui,
cầu xin Chúa Hài Đồng ban hồng ân và hạnh phúc.

Viết đôi dòng này, để nhớ
Giáng sinh 49 năm trước,
mùa của mối tình đầu,
của những ước mơ giản dị theo tôi suốt nửa thế kỷ.

Tạ ơn Chúa, vì nay chúng tôi đã có Vĩnh Duy, Phương Thư…
và thêm hai con trai dễ thương nữa.



Giáng Sinh 2025, Canberra.
Mai Khánh Thư - Phạm Doanh Môn



14 tháng 12, 2025

Nhớ Thầy Trần Thanh Dũng_Trần Mỹ Huệ

 

Thầy Trần Thanh Dũng là giáo sư đệ nhị cấp của trường Trung học Mạc  Đỉnh Chi, Sài gòn trước 30-04-1975. Thầy định cư ở Mỹ và mất ngày 07-12-1995.




Hôm qua đám giõ ông thầy
Học trò nước mắt đong đầy tâm can
Cầu mong thầy đã bình an 
Hương linh siêu thoát qua ngàn dặm xa
Trần Mỹ Huệ

Trần Mỹ Huệ cựu học sinh Mạc Đỉnh Chi làm đám giỗ thầy hàng năm. Trước 30-4-1975 Mỹ Huệ dạy Sử Địa ở Trung học tỉnh Long An.

English version:

Mr. Trần Thanh Dũng was a high school teacher  at Mạc Đỉnh Chi High School in Saigon before April 30, 1975. He settled in the United States and passed away on December 7, 1995.



Yesterday was the death anniversary of the teacher
His students' hearts were filled with tears
Pray that the teacher rest in peace
Wish his soul find liberation across a thousand miles
Tran My Hue

Tran My Hue, a former student of Mac Dinh Chi, holds an annual memorial service for her teacher. Before April 30, 1975, My Hue taught History and Geography at Long An Provincial High School


06 tháng 12, 2025

VTM 182_Vọng tri âm_Minh Tâm

 


Xướng:

Vọng tri âm

Ngồi buồn bấm đốt ngón tay
Lắng nghe tiếng gió thở dài bên song.
Trần hoàn sắc sắc, không không.
Địa cầu trôi mãi trăm vòng huyễn hư.
Buồn vui thấm đẫm tâm tư,
Lắng lòng thanh tịnh chân như tìm về.
Đường đời chân bước lê thê.
Tay đan cung nhạc vỗ về không gian.
Thanh âm dìu dặt tuôn tràn,
Buồn vui gửi gió bay ngàn dặm xa
Đất trời một cõi bao la
Bốn phương nào biết ai là tri âm?
Minh Tâm

Họa 1:

Diệu Âm tương cố

Ngẫm ai đây đó chung tay
Đường đời muôn lối dặm dài song song
Dẫu là trong sắc có không
Tám làn gió * xoáy một vòng thực hư
Niềm chung dằng dặc nỗi tư
Đến bao giờ thấu lòng như nhất về
Những là đất nước phu thê
Nâng ly tương cố nhớ về thời gian
Bạn tình bốn biển mộng tràn
Tựa mây nương gió ngút ngàn nẻo xa
Giờ đây cõi tạm lân la
Lắng trong hỗn độn đâu là diệu âm.
Tâm Quã
Nov. 25, 2025 

"Tám làn gió" (hay còn gọi là tám ngọn gió đời) là một khái niệm trong Phật giáo, đề cập đến tám cặp đối cực của cuộc sống mà con người thường phải đối mặt: được, mất, vinh, nhục, khen, chê, lạc, khổ. Chúng ta luân chuyển trong tám "ngọn gió" này và sanh tử luân hồi ngay trong đó.
  • Được (thành công, may mắn) và mất (thất bại, mất mát).
  • Vinh (danh vọng, địa vị) và nhục (sự sỉ nhục, mất mặt).
  • Khen (lời tán dương) và chê (lời chỉ trích).
  • Lạc (hạnh phúc, vui sướng) và khổ (đau khổ, phiền não)
Họa 2:

Buồn


Điệu buồn rớt xuống bàn tay
Tâm tư nặng trĩu buông dài chấn song
Hồng trần nhẹ bước chân không
Tấm thân ràng buộc mấy vòng thực hư
Sao còn cứ mãi ưu tư
Sớm mai thức dậy tâm như quay về
Nhớ lời nguyện ước phu thê
Vòng tay chưa trọn não nề trần gian
Hoàng hôn xuống thấp ngập tràn
Đường xưa mất dấu dặm ngàn nẽo xa
Nửa đời quạnh quẽ lân la
Trần ai bể khổ đâu là phúc âm?!!
Nguyễn Cang
Nov. 26, 2025

Họa 3:

Quay Về

Nhẹ nhàng nắm chặt đôi tay
Đong đưa tán lá trãi dài ngoài song
Nắng chiều xuống nhẹ trên không
Màn sương phớt lạnh quanh vòng thanh hư*
Giọt buồn trĩu nặng sầu tư
Đố ai hiểu được tâm như quay về
Thoạt nhìn ngoài ngỏ chi thê**
Đón mùa đông tới ngược về thời gian
Lâng lâng cảm xúc ngập tràn
Hòa theo điệp khúc muôn ngàn nẻo xa
Hồng trần địa vỏng thiên la
Ai mà tránh được mới là diệu âm
Hương Lệ Oanh VA
Dec, 2. 2025
Chú thích:
*thanh hư: thanh khiết trong sạch
**chi thê: từ Hán văn ý chim đậu trên câ

Họa 4:

Huyền hư

Từ khi bằng hữu chia tay
Đêm về nghe tiếng ngân dài ngoài song
Công thành danh toại như không
Xem qua xét lại cũng vòng huyền hư
Ai bày cho cảnh trầm tư
Thâm tâm ủ dột giá như trở về
Tưởng rằng sẽ được chi thê
Ước gì có thể quay về thời gian
Đầm đìa giọt lệ tuôn tràn
Xứ người khách lạ muôn ngàn nơi xa
Ai mà biết được thiên la
Khi trầm khi bổng ngỡ là ngũ âm
PTL

huyền hư 玄虛 : Triết lý "thâm diệu hư vô"
Thâm diệu hư vô" là một cách diễn đạt triết học mang tính trừu tượng, kết hợp hai khái niệm để nói về sự huyền bí, sâu sắc và vô biên của không gian hoặc trạng thái không tồn tại.
chi thê 枝棲 Chim đậu trên cành cây.
Ý nói chỗ nương tựa hoặc chức vụ để được an thân.
Thiên la 天 羅:  lưới trời
Ngũ âm 五音 : Năm âm bậc trong cổ nhạc Trung Hoa:
cung, thương  , giốc  , chủy  , vũ 羽

1. Tân nhạc: Đời là hư ảo
Sáng tác: 
Ca sĩ: Đạt Võ 




Đời là hư ảo

1. Sương khói hư [Em] vô gió quẩn mây buồn nhìn cuộc đời sao hư [G] ảo [Em]
Chìm đắm u [D] mê chạy theo vật [B7] chất khiến con tim mù [Em] lòa.

2. Năm tháng trôi [Em] qua chết tận tâm hồn và lòng người như sỏi [G] đá [Em]
Giờ mới nhận [D] ra người người xa [B7] lánh thấy xót xa một kiếp [Em] người.

ĐK:
[D] Kìa đồng tiền đồng tiền giấy mực in [Em] ra
Giàu sang nhân [D] thế chẳng qua sự [Em] đời
Sống một kiếp [D] người vốn nổi vốn [Em] trôi
Phù du chốc [D] lát hương xuân qua vội [Em] vàng.

Hơn [D] nhau chữ nghĩa chữ [Em] nhân
Đừng vì danh [D] lợi đáng gì ngày [G] sau
Đến [Em] khi lửa tắt hương [D] tàn
Tiền vô như [B7] nước mang theo được [Em] gì.

3. Như khói như [Em] sương gió quẩn bền bồng kìa cuộc đời sao hư [G] ảo [Em]
Người đến người [D] đi người cười người [B7] khóc âu cũng [D] chẳng qua một kiếp [Em] người.
1. Sương khói hư [Em] vô gió quẩn mây buồn nhìn cuộc đời sao hư [G] ảo [Em]
Chìm đắm u [D] mê chạy theo vật [B7] chất khiến con tim mù [Em] lòa.

2. Năm tháng trôi [Em] qua chết tận tâm hồn và lòng người như sỏi [G] đá [Em]
Giờ mới nhận [D] ra người người xa [B7] lánh thấy xót xa một kiếp [Em] người.

ĐK:
[D] Kìa đồng tiền đồng tiền giấy mực in [Em] ra
Giàu sang nhân [D] thế chẳng qua sự [Em] đời
Sống một kiếp [D] người vốn nổi vốn [Em] trôi
Phù du chốc [D] lát hương xuân qua vội [Em] vàng.

Hơn [D] nhau chữ nghĩa chữ [Em] nhân
Đừng vì danh [D] lợi đáng gì ngày [G] sau
Đến [Em] khi lửa tắt hương [D] tàn
Tiền vô như [B7] nước mang theo được [Em] gì.

3. Như khói như [Em] sương gió quẩn bền bồng kìa cuộc đời sao hư [G] ảo [Em]
Người đến người [D] đi người cười người [B7] khóc âu cũng [D] chẳng qua một kiếp [Em] người.


2. Cổ nhạc: Nhịp Cầu Tri Âm
Soạn giả:
Loan Thảo: Cổ nhạc 
Hoài Linh: Tân nhạc
Nghệ sĩ: - Hoài Long & Mộng Thu


Tân nhạc:

 Nam:

Tôi ở đồn xa nhịp cầu duyên mong nối tri âm muốn tìm.
Em ở thành đô ngại gì một câu thơ hòa điệu lòng cảm mến.
Oanh, Yến hay Liên Hồng, Lan, Ðào, Diễm hằng ngày nghe nói tên.
Muốn quen để rồi đến em Hậu Giang tôi cũng kiếm Miền Trung tôi cũng tìm.

Nữ:

Nối nhịp cầu duyên của người anh lính chiến em xin nhắn lời.
Bao tuổi người ơi!
Ðường tình đã nên đôi? Thật lòng đừng lừa dối.
Ði lính bao lâu người trông đẹp xấu lập được bao chiến công.
Mấy câu thành thật ước mong vì sinh ra phận gái
hỏi ai không lấy chồng...

Câu 1:
Nam:
Nhận cánh thư xanh chan chứa thâm tình của người nơi hậu tuyến. Lòng nghe lưu luyến thương nhớ bâng quơ dù chưa gặp ngỡ bao... giờ...
Nét chữ nghiêng nghiêng trên trang giấy học trò những lời lẽ ngây thơ nũng nịu ôi ngọt ngào thương mến làm sao.
Người chiến sĩ bỗng biến thành thi sĩ nghe trăng sao về vỗ giấc chiêm bao.
Hái hoa rừng ép giữa tờ thư
Xã ướp hương xông cho thơm trang tình sử...

Câu 2: 

Nữ: 
Thơ viết xong mấy hôm em không gửi chỉ sợ anh không nhận hoặc chê cười. Đánh bạo gửi đi rồi em hồi hộp đợi chờ đã mấy lượt người phát thư qua cổng nhưng không một lần gọi đến tên em. Em ngỡ thư lạc rồi không đến tay anh hay anh không thích đọc vì lời lẽ em ngây dại.
Nhưng một hôm nhận được thư anh gửi lo hay mừng mà tay bổng run run...

Tân nhạc:

Nam:

Tuổi đời vừa đúng ba mươi không đẹp người cũng dễ coi độc thân vui tính tròn ba năm lính chưa lần có bạn tâm tình.

 Nữ:

Từ ngày rời áo thư sinh sa trường lừng tiếng chiến binh

Nam:

Thề không gian dối mười huy chương thôi 
có sao nói vậy người ơi..

Câu 5:

Nữ:

Thời gian đã thấm thoát trôi mau đã bao lần thư đi tin lại. 
Em đã biết nhớ biết mong biết chờ biết đợi biết buồn cô đơn khi mưa lạnh phương... này...
Nghe bơ vơ giữa ngày rộng đêm dài. Một mình em đi giữa lòng phố thị ngỡ ngàng nhìn người ta bước bên nhau.
Anh với em chưa một lần hội ngộ mà đã đau sầu đôi ngả chia ly.
Chẳng đón chẳng đưa chưa hò chưa hẹn mà nhớ mà thương vời vợi một phương... sầu...

Câu 6:

Nam:
Anh ở đồn xa em nơi phố thị nhịp cầu thư se hai đứa nên duyên. Nhớ thương nhau chỉ khe khẽ gọi tên tình hai đứa mới thật tình trong mộng.
Gửi trao nhau từng tờ thư mỏng mà ân tình nặng lắm em ơi.
Ngày mai này sông núi hết xa xôi về phố thị sẽ thăm người em gái nhỏ.
Sẽ nhìn nhau lần đầu trong bỡ ngỡ mà tâm tư rộn rã nói sao vừa. 

Nữ:

Tình đã trao nhau từ lâu lắm mà ngại ngùng mà e thẹn làm sao.
Từ phương trời lạ gặp nhau thư xanh mình bắc nhịp cầu tri âm...

Tân nhạc:

Nam:

Tôi ở ngoài biên gửi lòng trên trang giấy se duyên kết tình.

Nữ:

Em ở thành kinh nhìn đời màu xanh xanh hoà nhịp lòng cùng lính..

Nam:

Khi đã nên duyên thuyền chung một bến trọn đời anh có em.

Song ca:

Cuối năm trời lạnh gió đông mười lăm hôm nghỉ phép là ta in thiếp hồng
Cuối năm trời lạnh gió đông mười lăm hôm nghỉ phép là ta in thiếp hồng
Cuối năm trời lạnh gió đông mười lăm hôm nghỉ phép là ta in thiếp hồng...

26 tháng 11, 2025

VTM 181_Mùa Thu lỗi hẹn_Nguyễn Cang



Xướng:

Mùa Thu lỗi hẹn

Hiu hắt vườn xưa gọi gió thu
Sớm mai đồi núi phủ sương mù
Hàng cây vàng lá cành xơ xác
Thành phố sương mờ cảnh tịch u
Mây tím hoàng hôn nghe buốt giá
Trời chiều hoàng hạc ngóng trăng lu
Đồi sim mấy độ ta ngồi đợi
Sao nỡ qua đò bỏ bến thu?!!
Nguyễn Cang
Nov. 5, 2025


Họa 1:

Vào thu

Sông buồn man mác nhuộm hơi thu,
Sương phủ không gian, đất tối mù
Khí lạnh giăng đầy, non trắng xóa
Đò chiều thưa thớt, bến âm u.
Hết vương tơ nắng hoàng hôn lịm,
Vừa mở vành cung ánh nguyệt lu.
Về tổ, đàn cò xao xác gọi,
Thuyền ai thơ thẩn đợi trăng thu?
Minh Tâm

Họa 2:

Trăng Thu

Hằng năm mỗi độ cứ vào thu
Ngày ngắn canh thâu tối mịt mù
Đất khách rừng phong màu lá úa
Không gian khoảnh khắc thấy âm u
Tâm tư gởi gắm theo chiều gió
Kỷ niệm phai mờ ảo ảnh lu
Lữ khách bâng khuâng lòng rộn rã
Đêm về lặng lẽ ngắm trăng thu
Hương Lệ Oanh VA
Nov, 6. 2025

Họa 3:
 








Cảnh thu

Hoa hồng đơn độc giữa mùa thu
Đỏ thắm xóa tan cảnh mịt mù
Phản chiếu nắng chiều cây sáng chói
Lá vàng che lấp cảnh mù u
Rừng cây trơ trọi cành hiu quạnh
Lấp lánh ánh đèn lúc tỏ lu
Vắng bóng đàn chim kêu ríu rít
Đóa hồng chễm chệ đón trăng thu
PTL 

Họa 4:

Dáng thu xưa

Ta về phố nhỏ giữa mùa thu
Lối cũ mây ùn gợn xám mù
Cảnh vắng chiều nghiêng đời vội vã
Sân mờ liễu rũ dáng âm u
Màn đêm phả nhẹ làn hơi ấm
Bóng tối vờn quanh ngọn nến lu
Trở gót buồn thương tình phố cổ
Rừng cây tiễn bước rực vàng thu
TQ
Nov. 2025

1.Tân nhạc: Thu sầu

Sáng tác: Lam Phương

Ca sĩ: Tạo bởi AI computer






2. Cổ nhạc: Thu Buồn
Soạn giả:: Phan Văn Thanh
Nghệ sỹ: Trọng Hữu 



Nói lối:
Người đi đi giữa phố khuya,
Hạt mưa trĩu nặng rụng bên thềm.
Đêm nay phố vắng đèn heo hút
Chút gió thu đông lạnh thắm lòng.

Vọng cổ

Câu1:

Thôi em ơi đừng ru làm chi những lời ru hờn trách, đâu phải tại gió thu đông đã chia cách mối duyên tình ...
Lối cũ đường quê đã in bóng đôi mình .......
Bên ngõ vắng những chiều hò hẹn, tim ai ngập ngừng theo từng chiếc lá vàng rơi.
Phải đâu giọt thu buồn làm nước mắt em rơi, trong phút chia tay để mỗi đứa một phương buồn.
Rồi tình cứ xa dần theo năm tháng người đi, để buồn nát con tim, để một đời nuối tiếc.

Câu 2:

Trời cho giọt nắng giọt mưa,
Ai đem giọt đắng gieo vào hồn tôi.
Giọt buồn còn đọng trên môi,
Giọt sầu ai để cả đời tôi mang ?
Tôi muốn khuyên em thôi đừng trách hờn mùa thu nữa, rồi tự khuyên tôi đừng đổ lỗi cho người ...
Thời gian đi có trở lại bao giờ ...
Cuộc đời tôi đã lắm nhiều bão tố, tại phận mình hay do số trời trao.
Xin em đừng thổn thức bước thu qua, đừng nhặt lá vàng nơi ngõ xưa mình hò hẹn. Dẫu đáy tim tôi tình em còn nguyên vẹn, kỷ niệm ngày nào tôi đâu dễ gì quên.

Ngâm thơ:

Người đi đi giữa chốn đời
Xin làm lữ khách cố nhân ơi,
Vấn vương, vương vấn mùa thu chết,
Ngõ vắng tình buồn lạnh lắm không ?

Câu 5:

Ngõ vắng tình yêu em sợ mùa thu không trở lại, cho con tim tê tái buổi đông về ....
Sợ ngọn gió heo may thổi lạnh nỗi mong chờ ...
Sợ lá vàng rơi ngập đường xưa lối cũ, sợ áng mây buồn che khuất mảnh trăng thu. Ngày tôi về đi giữa phố đêm, tìm lại lối thu xưa, lối thu buồn quanh quẽ.
Người về viết lại vần thơ,
Đường xưa lối cũ mưa rơi giọt buồn

Câu 6:

Thu nay lại về nhưng cuộc tình đã lỡ, bến hạnh phúc đây rồi sao thuyền chẳng buông neo ?
Biết em buồn nên dám trách ai đâu, tại tôi lắm đa đoan như kiếp tằm còn nặng nợ.
Đời tài hoa cũng là đời đau khổ, kẻ đa tình hay vướng bận tình duyên.
Tự nhủ lòng đâu ai có lỗi, chỉ thiếu với nhau một mối nợ tình.
Người đi để lại đêm dài,
Người đi để lại tháng ngày nhớ mong.
Đợi chờ thu lại sang đông,
Tình đà dang dở, tình buồn biệt ly

23 tháng 11, 2025

Nghĩ về Thầy Cô ở Đại Học Sư Phạm - Vũ hoàng Hoa

 

Dãy lầu ban Văn chương ĐHSPSG



Vũ hoàng Hoa

(Trong Trang Văn Chương Miền Nam)

 Tôi vào Đại học Sư phạm Saigon ngày 18. Lúc đó, tuổi thành niên là 21. Tôi không đủ tuổi để nói chuyện với chính phủ(!) nên Ba tôi phải ký giấy cam kết hoàn lại toàn bộ số tiền học bổng mà chính phủ sẽ cấp cho tôi, sinh viên Sư phạm trong suốt học trình 4 năm nếu tôi bỏ nhiệm sở trước khi hết hợp đồng 10 năm. Lúc đó ký là ký thôi. Ba tôi và tôi không thắc mắc tại sao lại có chuyện cam kết này.

Sau này tôi mới vỡ lẽ ra là vì tình trạng chiến tranh, có thể chúng tôi rơi vào những nhiệm sở thuộc vùng” xôi đậu “ bất ổn nên tờ giấy cam kết đó là sợi dây buộc chặt chúng tôi để khỏi... đào nhiệm!

Tôi vào Sư phạm vì vâng lời Ba tôi. Ba muốn tôi có việc làm chắc chắn sau khi ra trường chứ ông không muốn tôi phải vác bằng cấp long đong đi xin việc, hơn nữa, theo Ba tôi, dạy học là một nghề hiền lành, thích hợp với tôi, một con bé nhút nhát, chậm chạp!

Tôi không mấy hứng thú nhưng không dám cãi lời Ba và cũng vì ham áo mũ ra trường, coi rất bảnh( khiếp ! chưa vào học mà đã tính chuyện tốt nghiệp!) và số tiền học bổng ba ngàn mỗi tháng nên “cũng liều... nhắm mắt đưa chân , mà xem con tạo xoay vần đến đâu “ 

Năm tôi vào trường thì thẩy Trần văn Tấn, tiến sĩ toán, tốt nghiệp ở Pháp là giáo sư khoa trưởng.

Ở Sư phạm, tôi gần như không biết đại giảng đường là gì, chỉ trừ hai kỳ thi bán niên thì chúng tôi mới tập trung vào đại giảng đường ( nhỏ xíu!) để thi cùng với sinh viên của các ban khác gồm Sử địa, Anh văn, Pháp văn. Còn xuân thu nhị kỳ chúng tôi chỉ quanh quẩn trong lớp học của bốn mươi sinh viên . 

Những ngày đầu ở Sư phạm, tôi không vui vì ít ra một năm Văn khoa cũng đã cho tôi cảm giác tự do, thoải mái mà tôi chưa bao giờ được hưởng. Ở Văn khoa, muốn đi học thì đi, không thì thôi, chỉ cần mua sách( cours) về học, tới kỳ thi thì lại là kiếp con tằm... nhả tơ. Nhưng Sư phạm thì không, chúng tôi là những “ công chức” tương lai nên mỗi ngày phải đi học hai buổi sáng chiều, tám tiếng! Cứ mỗi hai giờ thì văn phòng sinh viên vụ lại đưa sổ điểm danh lên để sinh viên ký tên. Chúng tôi vẫn nói đùa là chữ ký của mình là chữ ký bằng vàng vì trường căn cứ vào đó mà phát học bổng!

Trường chúng tôi gồm hai dãy lầu cũ, ngăn cách bằng một sân cờ với hai thảm cỏ nhỏ. Tôi nghe nói, niên khoá đầu tiên của chúng tôi ở Sư phạm Saigon, trường chỉ có 900 sinh viên cho cả hai khối :nhân văn( khoa học xã hội gồm Việt Hán, Anh văn, Pháp văn và Sử Địa) và khoa học ( khoa học tự nhiên: Toán, Lý Hoá và Vạn vật). “ Hàng xóm” của chúng tôi là Trung học Petrus Ký, mặt tiền ở ngay đường Cộng Hoà, đối diện Tổng nha Cảnh Sát Quốc gia, kế đó là Đại học Khoa học.

Ở Sư phạm, tôi có cảm tưởng đang học trung học khi thầy gọi đọc bài, chúng tôi cũng phải đem tập lên bàn thầy, đứng vòng tay đọc bài! 

Các thầy cô phụ trách giảng dạy chúng tôi cũng tương đối trẻ. Giáo sư lớn tuổi nhất của chúng tôi năm ấy là thầy Trương văn Chình. Thầy Chình dạy môn Văn phạm. Điều làm tôi nhớ thầy mãi không phải là những bài giảng của thầy mà là vẻ... đẹp trai, ô không, vẻ đẹp lão của thầy!

Nguyễn tấn diệu Tâm, bạn thân của tôi và tôi cứ nhìn thầy xuýt xoa” Chu cha, thầy ơi! Thầy ăn chi mà thầy đẹp dễ sợ rứa? Chừ thầy già rồi mà còn đẹp cỡ ni, khi trẻ chắc có lắm cô chết vì thầy! “Và dĩ nhiên đó chỉ là những lời tán dương vẻ đẹp” khuynh thành “của thầy mà hai đứa tôi chỉ dám nhỏ to sau lưng thầy!

Mà phải công nhận, thầy tôi đẹp thật!

Buổi học đầu tiên thầy kể cho chúng tôi nghe sơ về gia thế của thầy. Trước kia, thầy là Tổng giám đốc bưu điện Saigon và thẩy có một người con trai đang đi học ở Úc, ngành kỹ sư đóng hộp. Sau này, bọn tôi thấy thầy có vẻ để ý ưu ái Thu Vân, bạn đồng môn của chúng tôi nên cả lũ hùa nhau chọc Thu Vân” Thầy chấm mày làm ... con dâu rồi đó! Mai mốt thầy sẽ... đóng hộp mày, gửi qua Úc! “ vả chúng tôi lăn ra cười mặc cho Thu Vân lúng túng, muốn khóc!

Nhưng rồi thế cuộc đổi thay nên Thu Vân không bị “ đóng hộp “ đi Úc mà hiện nay bạn đã là tiến sĩ, phó giáo sư đại học sư phạm thành hồ! 

Rồi chúng tôi có thầy Phan Hồng Lạc là giáo sư môn Hán văn. Thầy trẻ, hiền và cười với sinh viên hoài!

Ngoài ra, thầy còn là giáo sư hướng dẫn thực tập của chúng tôi trong bán niên đầu.Thầy ân cần dặn dò chúng tôi từng chút một. Với các nữ sinh viên, thầy nhắc chúng tôi đánh phấn hồng để che nét mặt xanh tái, bối rối khi lên bục giảng!

Thầy dịu dàng phân tích những ưu, khuyết điểm của chúng tôi trong giờ thực tập và không bao giờ thầy nỡ xuống tay với sinh viên! Thầy ơi! Bao nhiêu năm qua, không còn được gặp thầy nhưng bao giờ nghĩ đến các thầy cô, thì thầy vẫn là một trong những hình ảnh rất đáng quý, đối với em, thưa thầy!

Thầy biết không, ngày đó, sinh viên Việt Hán một chúng em đã ưu ái tặng thầy biệt danh:”Hoà thị chi bích”, theo đề bài Hán văn đầu tiên thầy dậy chúng em: Viên ngọc của người họ Hoà. 

Nói đến thầy Phan Hồng Lạc là phải nhắc tới thầy Lê hữu Mục. Thầy Mục giảng dạy môn chữ Nôm. Thầy mập,giọng thầy ồm ồm, mới thoạt nhìn, tôi rất sợ! Nhưng thật ra, thầy Mục dễ thương lắm. Thầy tận tâm giảng dạy. Môn chữ Nôm là môn học mới mẻ và khá khó nuốt(!) vì để học được chữ Nôm thì chúng tôi phải biết chữ Hán đã, do chữ Nôm được cấu tạo từ chữ Hán...

Thầy Mục có lẽ cũng hiểu chúng tôi đa số chỉ mới học Hán văn năm Dự bị Văn chương Việt Nam ở Văn khoa nên vốn liếng chữ Hán cũng rất còm cõi do đó thầy dạy chậm, giải thích tường tận, nhờ vậy chúng tôi cũng đỡ vất vả. Nhớ có lần thầy bảo cả lớp viết tên thầy bằng chữ Hán, tất cả chúng tôi đều viết chữ Mục là con mắt! Lê hữu Mục là... ông Lê có mắt! Thầy đã lắc đầu, mắng chúng tôi “ Dốt! Dốt! Mục của thầy là hoà thuận chứ không phải là con mắt!”

Ngoài ra, thầy Mục còn là một vĩ cầm thủ tài hoa! Thầy rất nghệ sĩ! Thỉnh thoảng thầy hát cho trò nghe và thầy cũng bảo chúng tôi hát cho thầy bạn cùng nghe. Thầy Mục của con! Thầy Mục của những ngày chữ Nôm và tiếng hát sinh viên! 

Bên cạnh các thầy Phan Hồng Lạc, Lê hữu Mục là hai giáo sư Phạm văn Diêu và Phạm văn Đang. Hai thầy cùng họ, cùng chữ lót tưởng như anh em ruột nhưng thật ra không phải, thầy Diêu người trung, thầy Đang người bắc. Cả hai thầy chia nhau dạy chúng tôi phần Văn học Lý Trần. Thầy Diêu còn dạy thêm phần văn học dân gian. Thầy Diêu viết văn hay lắm, văn của thầy là một bài thơ! 

Thầy Đang còn trẻ !Tôi đoán thầy chỉ ngoài ba mươi một chút thôi! Thầy vui tính và tôi là sinh viên được thầy ưu ái vì tính tôi ... lẩm cẩm, thích tìm đọc những điển cố Trung hoa nên tôi đã trả lời được khi thầy hỏi” tại sao gọi là chín suối? Tại sao Cao Bá Quát lại có hiệu là Chu thần?”... 

Thầy Đang dễ chịu bao nhiêu thì thầy Diêu lại khó tính bấy nhiêu. Thầy hay rầy chúng tôi vì những “ lỗi” không do chúng tôi cố ý gây ra, thầy mới đến ngưỡng cửa lớp mà nếu chúng tôi chưa thấy, không kịp đứng lên chào là bị thầy “ dũa” te tua! Thầy Diêu cũng” biết mình biết ta” lắm(!) nên có lần thầy cay đắng bảo chúng tôi “ Ngày các anh chị ra trường, đừng mời tôi dự tiệc! Tôi biết các anh chị không ưa tôi nhưng đã phải chịu đựng tôi trong bấy nhiêu năm học, bây giờ, còn những giờ phút cuối, tôi phải tránh mặt đi để cho các anh chị thoải mái! “Nhìn vẻ mặt buồn bã của thầy khi nói, tôi bỗng thấy xót xa nhưng tận thâm tâm, tôi vẫn tự hỏi “ sao thầy không thể thân ái với chúng tôi như các thầy cô khác? Tại sao thầy phải khắt khe với chúng tôi để thầy buồn và chúng tôi cũng không vui? 

Thầy Diêu buồn thì thầy Nguyễn sĩ Tế lại vui, rất vui! Những giờ văn học Phương Tây với thầy tràn ngập tiếng cười! Thầy đã được chúng tôi tặng biệt danh” ông cố vấn dung nhan “ và biệt danh này chỉ luân lưu trong phạm vi sinh viên chúng tôi. Số là,khi thầy dạy tác phẩm “ Trưởng giả học làm sang”( Les bourgeois gentilles hommes) của Molière, thầy giảng những bà nhà giàu mới nổi, thích làm sang và để tỏ ra ta đây thuộc hàng danh giá, tách biệt khỏi giới bình dân thì họ cũng đổi cách ăn nói, chẳng hạn cái gương soi mặt ( le miroir)thì họ lại gọi là cái cố vấn dung nhan (le conseil de la beauté!)và thế là từ đó thầy có tên...! Ngoài ra, tôi còn nhớ hễ mỗi khi thầy đang giảng mà bỗng cúi xuống là sinh viên cũng lo lật đật ...cúi theo... để ghi cours cho kịp vì thẩy nói nhanh lắm!

Chúng tôi học với thầyTế hai giờ cuối,ngày thứ hai và lúc nào cũng vậy, tôi ra về với một nụ cười!

Cô Nguyễn thị Xuân Lan là nữ giáo sư duy nhất của chúng tôi, Việt Hán một- Pháp văn trong bán niên đầu. Tên sao người vậy! Cô người Huế, cô là biểu tượng dịu dàng, khả ái của núi Ngự sông Hương! Ngày đầu tiên cô đã cho chúng tôi được chọn bài học, cả lũ đã nhao nhao xin cô cho học tình thư lãng mạn, và bức thư tình đầu tiên cô dạy là tình thư của Napoléon gửi cho Joséphine. Tôi còn nhớ có lần cô dạy chữ dépeupler, nghĩa là làm cho bớt người, dãn dân...và cô giảng chữ này trong một câu thơ của Lamartine: “Un seul Etre vous manque et tout est dépeuplé( xin tạm dịch: vắng một người cả trời đất đều hoang vu!) Hay quá là hay! 

Thầy Lê thanh hoàng Dân và thầy Trần công Thiện phụ trách môn Tâm lý giáo dục. Buồn ngủ ơi là buồn ngủ! Thầy Lê thanh hoàng Dân cũng được chúng tôi nghịch ngợm “phong tặng” là “ông... tâm bệnh”(!) vì bài giảng của thầy lúc nào cũng là tâm bệnh, nghe một hồi tôi cũng muốn bị ... tâm bệnh luôn! 

Thầy Giản chi Nguyễn hữu Văn dạy môn Triết đông. Thầy hiền ơi là hiền và thầy cho chúng tôi cảm tưởng như đang được nghe thầy kể chuyện đời xưa. Thầy là một trong những vị thầy khả kính của chúng tôi! 

Thầy Lê Ngọc Trụ là giáo sư môn Ngữ âm của chúng tôi. Bây giờ thì tôi chẳng còn nhớ chút gì về những bài Ngữ âm nữa nhưng luôn nhớ thầy Trụ. Thầy cũng như thầy Giản Chi, rất hiền! 

Bán niên hai, cô Khưu sĩ Huệ thay thế thầy Phan Hồng Lạc,phụ trách môn Hán văn. Cô là biểu tượng của một lương sư! Cô không bao giờ đi trễ và cũng không bỏ buổi dạy nào.Cô thương học trò nhưng rất nghiêm!

Hai giờ đầu, chiều thứ Hai là giờ Hán văn. Buổi sáng chúng tôi đã ngất ngư với hai giờ Văn học Lý-Trần và Văn học Dân gian. Đến chiều là đã bắt đầu uể oải! Hơn nữa trời Sài Gòn nóng nực nên hai mắt cứ muốn nhíp lại. Nhưng buồn ngủ cách mấy thì cũng phải ráng trợn mắt mà nuốt cho xong mớ chữ Hán hỗn độn kia!

Cô Khưu sĩ Huệ không giảng dạy theo lối thường như các thầy cô khác. Cô tập cho chúng tôi tinh thần tự tìm tòi, học hỏi.

Có lần cô cho đề bài”tuần sau,chúng ta sẽ học động từ “vi”. Các anh chị về tự học và mỗi người ít nhất làm cho tôi bốn câu có chữ”vi”! Chữ”vi”: động từ “là “như to be trong tiếng Anh hay Être trong tiếng Pháp.

Thứ hai sau đó, cô kêu bốn đứa đầu tiên lên bảng và tôi “hân hạnh “ nằm trong bảng”phong thần” của cô!

Tấm bảng lớn được chia làm bốn phần, cho Trần Phú Lai mà chúng tôi vẫn nghịch ngợm đọc lái là Phái Lu, tôi và hai bạn nữa mà tôi đã quên tên rồi.

Chúng tôi hí hoáy viết. Sau đó, cô biểu chúng tôi đọc lớn bài làm của mình cho cả lớp nghe.

Câu đầu tiên của Trần Phú Lai:

Ngã vi bần sĩ! Nghĩa là: Tôi là học trò nghèo!

Cô nhăn mặt!

Đến phiên tôi!

Vi nhân, mạc vô tử! Nghĩa Là: làm người ai mà chẳng chết!

Cô lắc đầu!

Và hai bạn sau tôi cũng với những câu hắc ám, bi quan tương tự!

Cô chán nản!

Cô hỏi Phái Lu:

-Anh tên gì?

-Thưa cô, em tên Trần Phú Lai.

-Anh viết tên anh ra coi!( dĩ nhiên là viết tên bằng chữ Hán), xong cô biểu Phái Lu dịch tên hắn ra rồi cô la:

-Cha mẹ anh đặt cho anh cái tên hay như vậy nghĩa là ông bà muốn sự giàu có đến với anh. Hà cớ gì mà anh lại nói anh là học trò nghèo?

Xong đời Phái Lu!

Đến phiên tôi, sau khi tôi đọc và dịch xong phần bài làm của mình, cô nghiêng đầu ngó tôi:

-Chị mấy tuổi?

-Thưa cô, con 18.

-Chị còn trẻ quá! Sống chưa được bao nhiêu sao đã lo chuyện chết?!

Tôi đứng yên, tàn đời!

Hai người bạn sau cũng đồng cảnh ngộ như Phái Lu và tôi!

Sau đó cô bảo tất cả chúng tôi viết tên mình nạp cho cô.

Tuần kế, cả lớp đều thoát “nạn”, chỉ trừ Tuyết Lệ!

Cô hỏi Tuyết Lệ:

-Chữ Lệ nghĩa là gì?

-Thưa cô, nước mắt.

Cô la:

-Chị nghĩ sao mà lại nói như vậy? Bộ khi sinh chị ra, ba má chị buồn lắm hả?

Và cô hỏi tiếp:

-Chị có biết nghĩa khác của chữ Lệ không?

Tuyết Lệ ấp úng:

-Thưa cô,không!

-Lệ có nghĩa là đẹp đẽ như tráng lệ, diễm lệ…

Một lần, giờ Hán văn của cô, lớp tôi có đến ba, bốn bạn đi trễ! Cô giận lắm nhưng cô vẫn ổn tồn bảo:

-Các anh chị phải biết, các anh chị ở trường này để được đào tạo thành thầy cô. Các anh chị nghĩ thế nào nếu mai này tới giờ dạy, các anh chị đã ở trên bục giảng mà cứ năm phút một đứa học trò đi vào, năm phút sau lại đứa kế tiếp?

Tất cả chúng tôi cúi gầm mặt xuống, im lặng! Từ đó về sau, giờ thầy cô nào còn dám đi trễ chứ giờ cô Khưu sĩ Huệ thì đố! Chưa tới giờ đã đủ mặt … bá quan văn võ!

 Và cứ thế, cuộc đời sinh viên của chúng tôi khi nổi, khi chìm. Cho đến một ngày

Ngày 30.04.1975!

Mệnh nước trầm luân!

Mệnh người phiêu bạt

 

Thưa các thầy cô!

Con, học trò của quý thầy cô, đã từ bao nhiêu năm rồi.

Ngày 30.04.1975, nước mất, nhà tan! Thầy cô và chúng con cũng theo dòng sinh mệnh của dân tộc mà chung cảnh trầm luân!

Ngày vào Sư phạm, con mang ước vọng cũng như quý thầy cô, đem kiến thức đã được truyền thụ để hướng dẫn cho các thế hệ đàn em, làm cho các em hiểu và yêu mến tiếng Việt, tự hào về dân tộc mình. Nhưng thầy cô ơi! Con đã không làm được điều thầy cô kỳ vọng ở chúng con! Con rất buồn! Nhưng biết làm sao hơn được?!

Giờ này, sau bao cuộc bể dâu, quý thầy cô và chúng con chắc cũng khó lòng mong một ngày trở về, đoàn tụ dưới mái trường Sư phạm thân yêu!

Quý thầy cô, nếu còn thì cũng đã quá trọng tuổi và nhiều thầy cô đã trở về cùng cát bụi!

Những Lương sư đã không thấy được ngày Hưng Quốc!

Đau lòng xiết bao!

Giờ đây, con cũng như các bạn hữu chỉ xin kính chúc các thầy cô còn hiện diện với chúng con hai chữ an khang và với các thầy cô đã đi vào cõi thiên thu, con nguyện xin Thượng đế đưa quý thầy cô của chúng con về miền Vĩnh phúc!

Và chúng con xin chân thành cảm tạ công ơn giáo dục của quý thầy cô cho chúng con được như hôm nay. Có thể chúng con không thành công nhưng ít ra quý thầy cô cũng có thể mỉm cười khi biết chúng con, lớp hậu sinh của quý thầy cô đã thành nhân! Và câu châm ngôn “Lương Sư Hưng Quốc “ với riêng con, là điều tâm niệm mãi mãi.

Kính và thương,

Con,

Vũ hoàng Hoa

(Trong Trang Văn Chương Miền Nam)

Nguồn:

https://groups.google.com/g/70ab/c/7e-qSnkhEqM?pli=1