Người lữ khách cuối cùng
Phan Cao Tri
Suốt 20 năm, ông cụ lặng lẽ sống ở sân bay, như cái bóng giữa dòng người qua lại, ai cũng từng chỉ trỏ, bàn tán. Cho đến một ngày, sự thật về thân phận ông khiến tất cả phải lặng người trong xúc động.
Vườn Thơ Văn Tài Tử là nơi hội ngộ những người có tâm hồn thơ văn. Đây là sân chơi phi chính trị, phi lợi nhuận của những người không chuyên nghiệp về thơ văn để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau. Tôn chỉ của VTTT là: Cao nhân tất hữu cao nhân trị 高人 必有高人 治 ( Luôn luôn có người giỏi hơn bạn; There is always somebody better than you )
Người lữ khách cuối cùng
Phan Cao Tri
Suốt 20 năm, ông cụ lặng lẽ sống ở sân bay, như cái bóng giữa dòng người qua lại, ai cũng từng chỉ trỏ, bàn tán. Cho đến một ngày, sự thật về thân phận ông khiến tất cả phải lặng người trong xúc động.
Mrs Khuu Si Hue was born in 1934 at Tra Vinh province, South Vietnam . In 1952 she attended the school of Pedagogy of the National Taiwan University. She earned Master degree in Education from the national Chenchi University in Taiwan. She taught in Taiwan until she returned to Vietnam in 1963 and taught at the school of Pedagogy of the university of Saigon . She is a boat people during the the fall of Saigon and passed away on Oct. 18, 2012 in Virginia.
Phat Tran Lam was her student from 1969 to 1972.
Tãn mạn cuối tuần: Gọi là Việt kiều hay Người Việt hải ngoại?
|
||||
|
"Kiều" đây không phải nàng Kiều của Nguyễn Du, mà là chữ Kiều trong "Việt kiều". Chữ Kiều 僑 nầy có nhiều nghĩa như sau: – Nếu là động từ, Kiều là ăn nhờ ở đậu. Thí dụ: "Kiều cư" là ăn nhờ ở đậu nơi đất khách. – Là danh từ, Kiều chỉ người sống nhờ làng nước khác. Thí dụ: "Hoa kiều" là người có quốc tịch Tàu sống ở nước ngoài[1]; – Là phó từ (?), thì nghĩa là tạm thời. Thí dụ: "Kiều trí" là mượn tên đất này đặt cho đất khác[2]. ![]() (Minh họa) Dù thuộc từ loại nào, "Kiều" cũng hàm ý nghĩa là tạm bợ, trôi nổi bềnh bồng. Trở lại với "Việt kiều", lâu nay người ta vẫn dùng danh từ này để gọi chung những người Việt Nam sống ngoài đất nước, cách gọi này vừa hàm hồ vừa thấy bất cập. Vậy, "Việt kiều" là ai đây? Nếu hiểu cho đúng nghĩa thì đó là những người có quốc tịch Việt Nam nhưng đang sống ở nước khác. Từ xưa, đã có người Việt di cư qua nước khác, nhưng chỉ có lác đác, không hình thành được cộng đồng người Việt ở nước ngoài[3]. Phải đợi đến sau cơn quốc biến 30-4-1975, làn sóng người Việt di tản mới ồ ạt và hình thành ra những cộng đồng lớn sinh sống ở các nước. Khi những di dân đó đã thành đạt ở xứ người thì họ được kêu "Việt kiều", với ý nghĩa có sự tâng bốc. Chữ "Việt kiều" này là do người trong nước đặt ra thôi, còn người Việt ở nước ngoài hiếm khi tự xưng như vậy và nếu có cũng là với ý tự châm biếm làm chính. Ở các nước mà người Việt đến sinh sống, người ta cũng không gọi họ là "Việt kiều", mà gọi là "người tỵ nạn" (refugee), hoặc "thuyền nhân" (boat people). Khi những người tỵ nạn này đã có thẻ thường trú nhân hoặc đã nhập tịch nước khác, thì họ không còn là công dân Việt Nam nữa. Từ nay, với quốc tịch khác, họ có những quyền lợi và trách nhiệm với tổ quốc mới đã chọn, những sự ràng buộc cũ với Việt Nam đã cắt đứt. Họ trở thành là người Anh, Mỹ, Pháp, Đức… đang sống ở Đức, Pháp, Mỹ, Anh. Chẳng có duyên cớ gì để gọi họ là "Việt kiều" nữa mà phải là "người Mỹ gốc Việt", "người Pháp gốc Việt", vân vân. Do sai lầm hoặc cố tình ngộ nhận mà đã đẻ ra lắm danh từ lạ lùng và vô duyên, như kêu người Hàn gốc Việt là "Hàn kiều", người Thụy Sĩ gốc Việt thành "Thụy kiều",… Thí dụ như vầy nha: Một người Việt qua định cư và nhập tịch ở Mỹ, người đó bây giờ là "người Mỹ gốc Việt". Nếu về Việt Nam chơi, thì người đó là người Mỹ gốc Việt, gọi "Việt kiều" là vu cáo, vì ông/bà đó có ăn nhờ ở đậu của ai đâu? Và sự thể sẽ rất vui, nếu người Mỹ gốc Việt này lại về Việt Nam tạm trú để làm ăn chi đó, lúc này phải kêu họ là "Mỹ kiều", không thể nói là "Việt kiều" được. Vì họ được Đại sứ quán hoặc các Lãnh sự quán Hoa Kỳ bảo đảm quyền lợi, còn chính quyền Việt Nam chỉ dành cho họ những sự đãi ngộ đối với người nước ngoài mà thôi. Từ chỗ nhìn nhận chữ "Việt kiều" để áp dụng riêng chỉ ra những người thành công, có sản nghiệp ở nước ngoài, rồi nưng niu biến thành "khúc ruột ngàn dặm", đã dẫn tới hậu quả oái oăm: những "Việt kiều" đích thực, theo đúng nghĩa "ngụ cư" của chữ Kiều, lại chẳng có ai muốn ngó ngàng đến. Việt kiều thiệt thọ là ai? Đó là những người Việt đang sống chui, tạm bợ, không có giấy tờ tùy thân, là những công nhân xuất khẩu lao động, những du học sinh đang đi tu nghiệp ở nước ngoài. Trong khi người ta trải thảm đỏ mời gọi giới đầu tư gốc Việt mang vốn từ nước ngoài về xây dựng đất nước thì phần lớn Việt kiều thiệt sự lại bị lãng quên, thậm chí khinh thị. Vậy đó, Việt kiều đáng lẽ ra là một bộ phận mà đất nước phải cưu mang lại được hiểu ra thành những người gốc Việt có của ăn của để, với ẩn ý nhắc nhở họ phải… cưu mang cho đất nước. * * * Tóm lại, danh từ "Việt kiều" (gần đây biến thể thành "kiều bào") đã bị hiểu sai, biến dân xứ người thành dân nước mình của nhà nước Việt Nam. Chính quyền này không phải thiếu sáng suốt đến độ không nhận ra một sự thật hiển nhiên là có những người Việt Nam không mang (và cũng không muốn mang) quốc tịch Việt Nam, nhưng người ta vẫn cố níu kéo vô gốc gác đồng hương cũ để khuyến dụ, chài mồi ngoại tệ. Hãy dùng chữ cho đúng, chỉ dùng danh từ "Việt kiều" để gọi những người có quốc tịch Việt Nam đang sống ở nước ngoài; còn với người đã là thường trú nhân hoặc mang quốc tịch khác thì là "người gốc Việt", hoặc "người Việt hải ngoại". Như vậy, để khỏi gây ra ngộ nhận cho các thế hệ sau! *** [1] "Hoa kiều" là tiếng để gọi những người Tàu sống ở nước ngoài. Miền Nam trước đây thường gọi Tàu là Hoa kiều, nhưng kể từ sau năm 1958, khi dân Tàu đều phải nhập Việt tịch thì ở Việt Nam không còn gọi là Hoa kiều nữa. Người Tàu vốn phân biệt rạch ròi: Chỉ có thế hệ di dân đầu tiên, là người còn mang quốc tịch Đài Loan đang sống ở nước ngoài mới kêu "Hoa kiều"; còn đã lấy quốc tịch khác thì gọi là "hải ngoại Hoa nhơn" (người Tàu ở nước ngoài); và con cháu những Hoa kiều, Hoa nhơn đó (được sinh ra ở ngoài tổ quốc) thì kêu là "Hoa duệ", hậu duệ của người Tàu. Mà tiếng "Hoa duệ" này cũng có phần hạn chế, chỉ dùng để gọi đến thế hệ thứ 5 mà thôi, từ thế hệ thứ 6 trở về sau kể như không dính dáng gì đến Trung Hoa nữa. Điều này rất khác với người Việt, là cái gốc Việt kia cứ được tính đếm dài dài, con cháu mấy chục đời sau, đã xa quê gốc thăm thẳm chiều trôi vẫn cứ bị nhận là họ hàng! [2] Nguyên thời xưa loạn lạc, có nhiều quận huyện tiêu vong, dân cư xứ đó dời qua xứ khác mới mượn tên cố quận đặt cho vùng đất mới. Như bên Tàu thời Nam Bắc triều, ở Sơn Đông có Duyện Châu, dân xứ đó bởi loạn lạc phải chạy qua Quảng Lăng thuộc Giang Tô trú ngụ, đất mới này được đặt tên Nam Duyện Châu. Ở miền Nam Việt Nam, trong cuộc di cư của đồng bào ngoài Bắc vô Nam năm 1954 cũng có những địa danh được “di cư” theo như vậy. Từ đó, có thêm chữ "kiều quận", "kiều châu", "kiều huyện". [3] Trường hợp con cháu nhà Lý trước hiểm họa bị nhà Trần tru diệt, đã phải đào thoát qua đến Nhật Bổn, Triều Tiên… Đó là những cuộc di tản quy mô, nhưng cũng chỉ hạn chế trong dòng tộc, số lượng vài trăm người, không đủ hình thành một cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Lê Vĩnh Húy | ||||
hai tuổi quá đôi mươi: 2+20 : 22 tuổi. Tuổi tốt nghiệp đại học.
Họa 1:
Chiều ThuThu cảm
Tân Nhạc:
Chiều trả về khuôn viên
Sân trường em ngõ vắng im lìm
Thẫn thờ hàng cây nghiêng
Ôm hình em bé nhỏ dịu hiền
Đường trải dài thênh thang
Như hồn anh mở ngõ tuôn trào
Đếm thầm từng bước em đi
Anh ước mình như lá thu vàng.
Để dập dìu bên em
Hôn cài lên tóc xõa vai mềm
Để trải đường em đi
Đưa hồn em tới nẻo êm đềm
Và dạt dào yêu thương
Theo làn mây gởi đến bên người
Dâng trọn tình yêu cao vời
Em vẫn hoài ôm ấp bên đời.
Dâng trọn tình yêu cao vời
Em vẫn hoài ôm ấp... bên đời.
Vọng Cổ:
Câu 1:
Em ơi đường xưa em đi mình anh đếm bước, phượng đỏ trước sân khuôn viên vắng lặng.
Tìm bước em đi sân trường rêu phủ, hàng cây nghiêng nghiêng như chờ đợi bước
chân... nàng.
Ôm hình em bé nhỏ dịu hiền.
Đường trải dài thênh thang như hồn anh mở ngõ.
Để âm thầm đếm bước em đi.
Em ơi, em có bao giờ ngoảnh mặt về sau.
Để bắt gặp có người đang chiêm ngưỡng.
Ôi mùa thu lá vàng rơi rụng trời lại xanh.
Mây trắng bay như màu áo cô em gái nhỏ.
Câu 2:
Em ơi lối thu xưa có người đang ước vọng.
Anh ước mình như chiếc lá thu vàng.
Để dập dìu bên em hôn lên gót chân nàng.
Để nhặt lại từng đường tóc rối.
Mà vô tình gió đã hôn lên.
Anh trải đường theo bước em đi.
Theo em đến nẻo êm đềm mộng ảo.
Và dạt dào gửi phút giây hạnh ngộ.
Dâng trọn tình này cho lối thu xưa.
Tân Nhạc:
Nhưng tháng năm vùi chôn đi bao ước mơ
Bao nỗi niềm buồn thương những đêm ngóng chờ
Đời chắt chiu sớm chiều muộn phiền hắt hiu
Em có còn trên lối thu xưa
Hay đã về nơi nẻo xa mờ.
Đời trả về cho anh
Sân trường xưa vàng võ u sầu
Đời dệt mộng em đi
Riêng mình em xót nỗi chia lìa.
Đường mộng nào em sang
Riêng mình anh tựa lá thu tàn
Biết lòng còn mãi mơ màng
Anh vẫn tìm em giữa mây ngàn.
[Biết lòng còn mãi mơ màng
Anh vẫn tìm em... giữa mây ngàn.]
Câu 5:
Lối thu xưa không còn em đếm bước.
Gót chân xưa nay đã về đâu nơi gió núi mây... ngàn.
Bao ước mơ xưa tàn tạ với thu vàng.
Anh sẽ vùi chôn niềm đau vô tận.
Khi sớm chiều mang nỗi sầu thương.
Sao em không còn đi trên lối thu xưa.
Em đã về đâu nơi xa mờ bụi cát.
Buồn phiền hắt hiu tiếng lòng tan nát.
Nhớ thương ai, anh mơ ước bên người.
Câu 6:
Đời trả về cho anh
Sân trường xưa vàng võ u sầu
Đời dệt mộng em đi
Riêng mình em xót nỗi chia lìa.
Đường mộng nào em sang
Riêng mình anh tựa lá thu tàn
Biết lòng còn mãi mơ màng
Anh vẫn tìm em giữa mây ngàn.
Sân trường vắng em nỗi buồn dâng da diết.
Lối thu này về hạ vàng mãi đi xa.
Tìm em trong tiếng nhạc lời ca.
Lối thu xưa đó em giờ nơi đâu.
Tú Tài
CAO HỔ CỐT
- Tác giả: Dược sĩ Trần Thanh CảnhDịp gần đây, có khá nhiều người bạn cả trên mạng lẫn ngoài đời hỏi tôi câu trên. Có lẽ bởi nhiều người biết tôi là dược sỹ, lại có thời gian khá dài làm việc ở miền núi, cũng từng hành nghề nấu cao khá nhiều năm. Nhưng trả lời câu hỏi này qua một vài tin nhắn, không hết lẽ. Còn ngồi nói chuyện cả buổi thì cùng không có thời gian. Nên tôi dành thời gian viết một bài, về cao hổ cốt nói riêng và cao xương các loại động vật nói chung, hy vọng cung cấp thông tin cho mọi người.Con hổ, tên khoa học: Panthera tigris, họ mèo: Felidae. Là một loại động vật có vú, ăn thịt. Dân gian nước ta gọi là cọp, hùm, hổ, ông ba mươi…Ở góc độ thức ăn và vị thuốc, toàn thân con hổ giá trị nhất là bộ xương, để đem nấu cao. Xương hổ được làm sạch, đập nhỏ, nạo bỏ tủy, phơi sấy sao tẩm rồi đem đi đun nấu, rút lấy dịch chiết, cô đặc thành cao hổ. Một bộ xương hổ trưởng thành thường nặng từ 5 đến 15 kg, tùy theo.Tỷ lệ cao thu được khoảng 20% trên trọng lượng xương. Bộ xương hổ có các đặc điểm định tính không thể trộn lẫn với xương các loài động vật khác, như ở xương bả vai của nó có một lỗ nhỏ, gọi là lỗ thông thiên. Và tỷ lệ các bộ phận trong cả bộ xương hổ trưởng thành rất ổn định: Xương đầu đủ răng chiếm 15%, xương 4 chân là 52%, xương sống chiếm 14%, xương sườn là 5,5%, xương chậu 5,5%, xương bả vai chiếm 4%, xương đuôi 2,2%, và 2 xương bánh chè chiếm 0,45%.Thành phần hóa học trong xương hổ đã được nghiên cứu kỹ: có nhiều collagen, các muối can xi như canxi phôt phát, can xi cac bon nat, mỡ, và một số muối khoáng khác…Collagen là thành phần chính của xương hổ. Trong collagen xương hổ, lượng acid amine khi thủy phân thu được sau quá trình nấu cao rất lớn, gấp nhiều lần xương các loài động vật khác. Nhưng sau khi thành ra sản phẩm là cao động vật có thể sử dụng thì lượng acid amin trong cao hổ cũng lại gần giống như cao của các loài khác như cao gấu, cao khỉ, cao ban long, cao xương động vật hỗn hợp…Nó đều dao động trong khoảng 14,39% - 16,66%. Như vậy bạn sử dụng cao hổ hay cao xương động vật hỗn hợp như ngựa, trâu, bò… thực chất là đang đưa vào cơ thể một lượng acid amin mà thôi. Bởi như đã từng nói, cấu trúc collagen làm nên hình thể và sự vững chắc của bộ xương các loài có thể khác nhau. Thế nhưng tất cả các collagen kia, sau quá trình thủy phân dưới tác động của nhiệt độ, thời gian, đều trở thành các acid amin thiết yếu, không có gì khác nhau. Đến lúc này, cao hổ cũng xêm xêm như một loại cao xương động vật nào đó, không hơn không kém.Trong y học cổ truyền cao hổ thường được dùng làm thuốc bổ dương, vì có nhiều đạm. Ngoài ra nó còn được dùng làm thuốc giảm đau, mạnh gân cốt, trừ tê thấp. Nhưng những tác dụng này mang tính truyền thuyết nhiều hơn là thực chứng.Còn y học hiện đại, hầu như không có một công trình nào nói về tác dụng của cao hổ! Với y học hiện đại, cao hổ cũng như cao xương các loại động vật khác, thường không được xếp loại là thuốc, mà chỉ là thực phẩm chức năng, có tác dụng cung cấp acid amin cho cơ thể. Nhưng xin hỏi bạn, trong thời đại hiện nay, chúng ta có thiếu thốn nguồn cung cấp acid amin không? Khi mà thức ăn hàng ngày của đa số hiện tại đang không thiếu thịt, cá, tôm, cua… các loại, nguồn cung cấp acid amin tươi ngon bổ rẻ, lại nhanh. Sao phải đợi đi săn hổ nấu cao cầu kỳ vậy? Còn với người ốm yếu suy kiệt do không ăn được, hiện đã có sẵn các loại dung dịch tiêm truyền acid amin để truyền nhỏ giọt thẳng vào máu, đảm bảo an toàn và hấp thu tuyệt đối, người bệnh sẽ rất nhanh hồi phục.Quy trình nấu cao hổ cũng gần như quy trình nấu cao xương một loại động vật nào đó. Đều bắt đầu từ làm sạch xương, sao tẩm, đưa vào nấu, rút dịch chiết ra cô đặc, đóng bánh, xong.Thế nhưng với cao hổ, vì là xương của ngài chúa rừng xanh nên người ta thường vẽ thêm những nghi thức thần bí, để tăng thêm cái sự oai linh quý báu, thực chất ngày nay ta gọi là PR, để tăng giá trị của sản phẩm, thế thôi. Còn thực tế thì cao hổ hiện nay bị làm giả, bị pha chế thêm cao khác khá nhiều.Dân nấu cao hổ chuyên nghiệp từng có câu “phi sơn dương bất thành cao hổ”! Xương của loài dê núi rất được các tay nấu cao hay pha trộn vào. Nhưng như thế còn khá tử tế, bởi rất nhiều tay nấu cao còn rỉ tai nhau một bí quyết “gia truyền” là, khi sắp thành cao, họ pha thêm một lượng cao thuốc phiện cô đặc vào. Nên khi uống cao hổ, người ta thấy khỏe mạnh, hưng phấn, mọi đau đớn tiêu tan tức khắc: tác dụng của morphine (ma túy) có trong thuốc phiện!Thật là nguy hiểm và không chừng có thể dẫn đến nghiện ngập. Nhưng thật may, với giá thành đến mấy chục triệu đồng một lạng (100 gram) nên hình như cũng ít người đủ tiền mua dùng hàng ngày để mà có thể thành con nghiện ma túy một cách vô tình như thế. Một kiểu pha chế đơn giản rẻ tiền nữa họ cũng hay dùng đó là cho thêm một lượng lớn thuốc dexamethasone, một thứ thuốc giảm đau xương cốt mình mẩy cực kỳ hiệu quả vào.Và kết quả là các bạn, đang đau mình mẩy, uống lạng cao hổ đắt tiền cứ tưởng là thần kỳ, biết đâu đó chỉ là tác dụng của những viên dexamethasone vốn vô cùng phổ biến, rẻ tiền bán đầy ở các nhà thuốc.Ở nước ta hổ hầu như đã tuyệt chủng. Trên thế giới, nhiều nơi còn hổ tự nhiên. Thế nhưng hiện nay hổ đã được đưa vào danh sách đỏ, cấm săn bắt và buôn bán. Thế nhưng cao hổ vẫn được âm thầm lưu hành, buôn bán khá nhiều. Thậm chí có lúc có chỗ còn khá công khai. Nguồn này ở đâu ra vậy?Xin thưa là hiện trên thế giới có khá nhiều trang trại nuôi hổ như ở Thái Lan, miền nam Trung Quốc và đặc biệt ở Nam Phi, nơi họ có những trang trại rộng mênh mông, chăn thả rất nhiều động vật hoang dã từ hổ, sư tử… để bán giấy phép săn bắn. Rồi từ đó những sản phẩm cao hổ được tung ra thị trường cho những người vẫn còn mê muội tin dùng.Hy vọng sau khi đọc bài này, các bạn không còn mối quan tâm gì nữa về loại sản phẩm “thần kỳ” của một thời u tối nữa!• DS. TRẦN THANH CẢNH