22 tháng 10, 2025

Người lữ khách cuối cùng_Phan Cao Tri

 Người lữ khách cuối cùng 

Phan Cao Tri

Suốt 20 năm, ông cụ lặng lẽ sống ở sân bay, như cái bóng giữa dòng người qua lại, ai cũng từng chỉ trỏ, bàn tán. Cho đến một ngày, sự thật về thân phận ông khiến tất cả phải lặng người trong xúc động.

Sân bay Tân Sơn Nhất những năm gần đây đã trở nên hiện đại và náo nhiệt hơn bao giờ hết. Hành khách kéo vali lộc cộc, tiếng loa thông báo chuyến bay vang vọng đều đặn, những cuộc chia ly và đoàn tụ nối tiếp nhau không ngừng nghỉ. Giữa dòng người hối hả ấy, chẳng ai không từng nhìn thấy một hình bóng quen thuộc – một ông cụ gầy gò, tóc bạc trắng, khoác chiếc áo khoác cũ kỹ, ngồi lặng lẽ bên góc ghế chờ gần cổng ra vào quốc tế.
 
Người ta gọi ông bằng nhiều cái tên: “ông cụ sân bay”, “người lang thang thời gian”, thậm chí có người đùa gọi là “hồn ma lạc lối”. Có những đứa trẻ chỉ vào ông rồi thầm thì với mẹ cha, người lớn cũng từng ái ngại mà bỏ lại vài gói mì tôm, chai nước, hay đôi khi là tờ tiền lẻ. Nhưng ông chưa từng xin ai bất cứ điều gì. Ông chỉ ngồi đó, mắt nhìn xa xăm như chờ đợi một điều gì đó sẽ đến từ những chuyến bay không ngừng cất cánh và hạ cánh mỗi ngày.
 
Không ai biết ông đến từ đâu. Không ai rõ vì sao ông lại chọn sống suốt 20 năm giữa nơi nhộn nhịp này, nơi mà ai cũng chỉ dừng lại tạm thời, chứ chẳng ai ở lại vĩnh viễn.
- “Ông ta bị mất trí nhớ.” – một anh bảo vệ từng nói với cô lao công.
- “Không phải đâu, nghe đâu ông ấy từng là Việt kiều, bị con cái bỏ rơi lúc về nước.” – chị bán cà phê trong sân bay thì thầm.
- “Cũng có khi là gián điệp thời chiến, không dám để lộ danh tính.” – có người thêu dệt, kèm nụ cười nửa miệng.
Mỗi người một giả thuyết, một mảnh ghép vụn vặt để cố ghép nên câu chuyện chưa có hồi kết. Nhưng ông cụ thì chẳng bao giờ giải thích. Ông chỉ lặng lẽ sống – như thể sự im lặng của ông là một phần của những âm thanh ồn ào kia, là tiếng ngân dài của thời gian bị lãng quên.
 
Một ngày đầu mùa thu năm ấy, khi mưa Sài Gòn kéo đến bất chợt, một cô phóng viên trẻ tên là Hà xuất hiện tại sân bay. Cô được giao thực hiện một phóng sự về “cuộc sống thường ngày ở sân bay”, và khi lướt qua góc ghế quen thuộc, cô thấy ông cụ – ướt lấm tấm mưa, tay ôm khư khư chiếc va-li cũ sờn góc. Tò mò, cô dừng lại hỏi chuyện.
Lúc đầu, ông không trả lời. Nhưng cô gái trẻ không bỏ cuộc. Cô mang nước, mang bánh mì, thậm chí ngồi cùng ông cả buổi chiều mà chẳng hỏi gì thêm. Cô chỉ kể về mình – một cô phóng viên tỉnh lẻ lên thành phố, làm nghề vì đam mê kể chuyện của con người.
 
Sau ba ngày như thế, ông cụ cuối cùng cũng lên tiếng – bằng một chất giọng trầm, rõ ràng và đầy cảm xúc.
- “Cháu có tin là có những người sống cả đời chỉ để đợi một người không?”
Hà ngỡ ngàng. Lần đầu tiên, ông cụ không còn là một bóng mờ, mà trở thành một con người – với giọng nói, ký ức, và một trái tim chưa bao giờ thôi chờ đợi.
 
Chuyện của 40 năm trước

Ông tên là Trần Văn Minh. Năm 1975, ông theo chuyến bay định mệnh rời Việt Nam sang Mỹ cùng vợ và con gái nhỏ, chỉ 3 tuổi. Nhưng giữa cảnh hỗn loạn lúc ấy, ông bị thất lạc vợ con ở sân bay. Máy bay không thể quay lại, và thế là ông đi một mình – mang theo nỗi day dứt, mang theo trái tim bị xé đôi.
Cuộc sống ở Mỹ không dễ dàng, nhưng ông luôn giữ hy vọng một ngày sẽ quay lại tìm vợ con. Ông học hành, làm việc, tích cóp từng đồng. Sau 20 năm, khi đã đủ điều kiện, ông trở về – nhưng không còn ai ở địa chỉ cũ, không còn tin tức. Họ đã biến mất như cơn gió năm nào.
Ông lục tung hồ sơ, tìm đến từng nơi có thể. Nhưng chẳng có gì. Duy chỉ có một điều ông giữ chắc trong lòng: vợ ông từng nói, nếu một ngày nào đó bị lạc nhau, hãy quay lại sân bay, nơi họ từng bắt đầu chia xa.
 
Và thế là ông trở lại Tân Sơn Nhất – ngày đó ông 60 tuổi. Giờ đã 80. Hai mươi năm ông sống ở đây, mỗi ngày đều dõi theo từng chuyến bay, từng khuôn mặt. Có lần ông tin là đã thấy bà – một người phụ nữ tuổi lục tuần, ánh mắt rất giống – nhưng rồi bà quay đi, ôm tay một người đàn ông lạ. Ông không đuổi theo. Vì ông sợ sai. Và cũng vì, ông nghĩ, nếu là bà – chắc chắn bà sẽ nhận ra ông.
- “Cháu biết không,” ông khẽ cười, đôi mắt đầy nước, “Mỗi ngày trôi qua, ta sợ không còn đủ thời gian. Nhưng ta vẫn ngồi đây, vì nếu bà ấy còn sống, chắc chắn sẽ quay lại. Chúng ta đã hứa với nhau…”
 
Tin tức gây chấn động

Hà lặng người. Cô quay về với cuốn băng ghi âm, và chỉ trong vài ngày sau khi phóng sự “Người lữ khách cuối cùng” được đăng tải, mạng xã hội bùng nổ. Bài viết lan tỏa với hàng trăm nghìn lượt chia sẻ. Nhiều người cảm động rơi nước mắt, nhiều Việt kiều liên hệ cô để hỏi thêm thông tin.
Và rồi một điều kỳ diệu đã xảy ra.
Một người phụ nữ tên là Trần Thị Ngọc Linh – hiện sống tại Melbourne, Úc – liên hệ với Hà, gửi ảnh chụp bà cùng mẹ ngày còn nhỏ. Hà run rẩy khi nhìn thấy cô bé trong ảnh – đôi mắt giống hệt ông cụ, và sau lưng tấm ảnh là dòng chữ “Gửi ba Minh, nếu ba còn sống, con vẫn chờ.”
Cuộc gọi video đầu tiên trong 45 năm – giữa ông Minh và con gái – là những tiếng nấc, là những “ba ơi”, “con đây”, là những giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt già nua và khuôn mặt đã trở thành mẹ.
Họ hẹn gặp nhau – không phải ở sân bay – mà ở chính căn nhà nhỏ ông đang được chăm sóc bởi một nhóm tình nguyện sau khi câu chuyện lan rộng.
 
Ngày đoàn tụ

Ngày hôm ấy, trời Sài Gòn nắng dịu. Bà Linh – giờ đã là một phụ nữ gần 50 tuổi – bước xuống từ xe, tay run rẩy cầm theo chiếc khăn tay cũ màu hồng, thứ duy nhất còn giữ từ mẹ cô – và là bằng chứng cuối cùng của mối liên kết máu thịt.
Ông Minh, ngồi trên chiếc ghế gỗ trong sân nhà, nhìn thấy con gái bước vào – không nói được lời nào. Chỉ có hai cánh tay run run dang ra, và cái ôm nghẹn ngào kéo dài mãi mãi như thể thời gian đã ngừng trôi.
- “Ba vẫn ngồi chờ con suốt 20 năm… ở cái nơi lần đầu ba mất con.”
-  “Con xin lỗi, ba… Con cứ tưởng ba đã không còn…”
 
Và sau đó…

Không ai còn thấy ông cụ ngồi ở sân bay nữa. Góc ghế quen thuộc giờ trống trải, nhưng trong lòng mọi người vẫn in hình bóng ông. Người bảo vệ năm xưa cũng thay đổi thái độ, nói với ai đó mới đến: “Nơi đó từng có một người cha, sống bằng niềm tin, chờ đợi suốt nửa đời người.”
Hà kết thúc phóng sự của mình bằng một dòng đơn giản:
“Không phải ai đi sân bay cũng chỉ để đi. Có người, ở đó, chỉ để chờ.”

Phan Cao Tri

21 tháng 10, 2025

13th Anniversary of the Professor Khuu Si Hue 's death

 


Mrs Khuu Si Hue was born in 1934 at Tra Vinh province, South Vietnam . In 1952 she attended the school of Pedagogy of the National Taiwan University. She earned Master degree in Education from the national Chenchi University in Taiwan. She taught in Taiwan  until  she returned to Vietnam in 1963 and taught at the school of Pedagogy of the university of Saigon . She is a boat people during the the fall of Saigon and  passed away on Oct. 18, 2012 in Virginia.

 Phat Tran Lam was her student from 1969 to 1972.




18 tháng 10, 2025

Gọi là Việt kiều hay Người Việt hải ngoại?_Lê Vĩnh Húy

 

Default Tãn mạn cuối tuần: Gọi là Việt kiều hay Người Việt hải ngoại?

"Kiều" đây không phải nàng Kiều của Nguyễn Du, mà là chữ Kiều trong "Việt kiều". Chữ Kiều 僑 nầy có nhiều nghĩa như sau:
– Nếu là động từ, Kiều là ăn nhờ ở đậu. Thí dụ: "Kiều cư" là ăn nhờ ở đậu nơi đất khách.
– Là danh từ, Kiều chỉ người sống nhờ làng nước khác. Thí dụ: "Hoa kiều" là người có quốc tịch Tàu sống ở nước ngoài[1];
– Là phó từ (?), thì nghĩa là tạm thời. Thí dụ: "Kiều trí" là mượn tên đất này đặt cho đất khác[2].

(Minh họa)

Dù thuộc từ loại nào, "Kiều" cũng hàm ý nghĩa là tạm bợ, trôi nổi bềnh bồng.

Trở lại với "Việt kiều", lâu nay người ta vẫn dùng danh từ này để gọi chung những người Việt Nam sống ngoài đất nước, cách gọi này vừa hàm hồ vừa thấy bất cập.

Vậy, "Việt kiều" là ai đây? Nếu hiểu cho đúng nghĩa thì đó là những người có quốc tịch Việt Nam nhưng đang sống ở nước khác.

Từ xưa, đã có người Việt di cư qua nước khác, nhưng chỉ có lác đác, không hình thành được cộng đồng người Việt ở nước ngoài[3]. Phải đợi đến sau cơn quốc biến 30-4-1975, làn sóng người Việt di tản mới ồ ạt và hình thành ra những cộng đồng lớn sinh sống ở các nước.

Khi những di dân đó đã thành đạt ở xứ người thì họ được kêu "Việt kiều", với ý nghĩa có sự tâng bốc. Chữ "Việt kiều" này là do người trong nước đặt ra thôi, còn người Việt ở nước ngoài hiếm khi tự xưng như vậy và nếu có cũng là với ý tự châm biếm làm chính. Ở các nước mà người Việt đến sinh sống, người ta cũng không gọi họ là "Việt kiều", mà gọi là "người tỵ nạn" (refugee), hoặc "thuyền nhân" (boat people).

Khi những người tỵ nạn này đã có thẻ thường trú nhân hoặc đã nhập tịch nước khác, thì họ không còn là công dân Việt Nam nữa. Từ nay, với quốc tịch khác, họ có những quyền lợi và trách nhiệm với tổ quốc mới đã chọn, những sự ràng buộc cũ với Việt Nam đã cắt đứt. Họ trở thành là người Anh, Mỹ, Pháp, Đức… đang sống ở Đức, Pháp, Mỹ, Anh. Chẳng có duyên cớ gì để gọi họ là "Việt kiều" nữa mà phải là "người Mỹ gốc Việt", "người Pháp gốc Việt", vân vân.

Do sai lầm hoặc cố tình ngộ nhận mà đã đẻ ra lắm danh từ lạ lùng và vô duyên, như kêu người Hàn gốc Việt là "Hàn kiều", người Thụy Sĩ gốc Việt thành "Thụy kiều",…

Thí dụ như vầy nha: Một người Việt qua định cư và nhập tịch ở Mỹ, người đó bây giờ là "người Mỹ gốc Việt". Nếu về Việt Nam chơi, thì người đó là người Mỹ gốc Việt, gọi "Việt kiều" là vu cáo, vì ông/bà đó có ăn nhờ ở đậu của ai đâu? Và sự thể sẽ rất vui, nếu người Mỹ gốc Việt này lại về Việt Nam tạm trú để làm ăn chi đó, lúc này phải kêu họ là "Mỹ kiều", không thể nói là "Việt kiều" được. Vì họ được Đại sứ quán hoặc các Lãnh sự quán Hoa Kỳ bảo đảm quyền lợi, còn chính quyền Việt Nam chỉ dành cho họ những sự đãi ngộ đối với người nước ngoài mà thôi.

Từ chỗ nhìn nhận chữ "Việt kiều" để áp dụng riêng chỉ ra những người thành công, có sản nghiệp ở nước ngoài, rồi nưng niu biến thành "khúc ruột ngàn dặm", đã dẫn tới hậu quả oái oăm: những "Việt kiều" đích thực, theo đúng nghĩa "ngụ cư" của chữ Kiều, lại chẳng có ai muốn ngó ngàng đến.

Việt kiều thiệt thọ là ai? Đó là những người Việt đang sống chui, tạm bợ, không có giấy tờ tùy thân, là những công nhân xuất khẩu lao động, những du học sinh đang đi tu nghiệp ở nước ngoài.

Trong khi người ta trải thảm đỏ mời gọi giới đầu tư gốc Việt mang vốn từ nước ngoài về xây dựng đất nước thì phần lớn Việt kiều thiệt sự lại bị lãng quên, thậm chí khinh thị.

Vậy đó, Việt kiều đáng lẽ ra là một bộ phận mà đất nước phải cưu mang lại được hiểu ra thành những người gốc Việt có của ăn của để, với ẩn ý nhắc nhở họ phải… cưu mang cho đất nước.

* * *
Tóm lại, danh từ "Việt kiều" (gần đây biến thể thành "kiều bào") đã bị hiểu sai, biến dân xứ người thành dân nước mình của nhà nước Việt Nam. Chính quyền này không phải thiếu sáng suốt đến độ không nhận ra một sự thật hiển nhiên là có những người Việt Nam không mang (và cũng không muốn mang) quốc tịch Việt Nam, nhưng người ta vẫn cố níu kéo vô gốc gác đồng hương cũ để khuyến dụ, chài mồi ngoại tệ.

Hãy dùng chữ cho đúng, chỉ dùng danh từ "Việt kiều" để gọi những người có quốc tịch Việt Nam đang sống ở nước ngoài; còn với người đã là thường trú nhân hoặc mang quốc tịch khác thì là "người gốc Việt", hoặc "người Việt hải ngoại". Như vậy, để khỏi gây ra ngộ nhận cho các thế hệ sau!

***

[1] "Hoa kiều" là tiếng để gọi những người Tàu sống ở nước ngoài. Miền Nam trước đây thường gọi Tàu là Hoa kiều, nhưng kể từ sau năm 1958, khi dân Tàu đều phải nhập Việt tịch thì ở Việt Nam không còn gọi là Hoa kiều nữa. Người Tàu vốn phân biệt rạch ròi: Chỉ có thế hệ di dân đầu tiên, là người còn mang quốc tịch Đài Loan đang sống ở nước ngoài mới kêu "Hoa kiều"; còn đã lấy quốc tịch khác thì gọi là "hải ngoại Hoa nhơn" (người Tàu ở nước ngoài); và con cháu những Hoa kiều, Hoa nhơn đó (được sinh ra ở ngoài tổ quốc) thì kêu là "Hoa duệ", hậu duệ của người Tàu.

Mà tiếng "Hoa duệ" này cũng có phần hạn chế, chỉ dùng để gọi đến thế hệ thứ 5 mà thôi, từ thế hệ thứ 6 trở về sau kể như không dính dáng gì đến Trung Hoa nữa. Điều này rất khác với người Việt, là cái gốc Việt kia cứ được tính đếm dài dài, con cháu mấy chục đời sau, đã xa quê gốc thăm thẳm chiều trôi vẫn cứ bị nhận là họ hàng!

[2] Nguyên thời xưa loạn lạc, có nhiều quận huyện tiêu vong, dân cư xứ đó dời qua xứ khác mới mượn tên cố quận đặt cho vùng đất mới. Như bên Tàu thời Nam Bắc triều, ở Sơn Đông có Duyện Châu, dân xứ đó bởi loạn lạc phải chạy qua Quảng Lăng thuộc Giang Tô trú ngụ, đất mới này được đặt tên Nam Duyện Châu. Ở miền Nam Việt Nam, trong cuộc di cư của đồng bào ngoài Bắc vô Nam năm 1954 cũng có những địa danh được “di cư” theo như vậy. Từ đó, có thêm chữ "kiều quận", "kiều châu", "kiều huyện".

[3] Trường hợp con cháu nhà Lý trước hiểm họa bị nhà Trần tru diệt, đã phải đào thoát qua đến Nhật Bổn, Triều Tiên… Đó là những cuộc di tản quy mô, nhưng cũng chỉ hạn chế trong dòng tộc, số lượng vài trăm người, không đủ hình thành một cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Lê Vĩnh Húy 

18-8_Ngày Giỗ Cô _PTL

 



Cô Khưu Sĩ Huệ
Cựu Giáo sư Đại Học Sư Phạm Sài gòn

18-8 Ngày Giỗ Cô

Mười ba năm trước Cô về tiên cảnh
Giã biệt dương trần thanh thản ra đi
Nhìn thấy Cô mà chẳng nói được gì
Mắt đẩm lệ nghẹn ngào không thành tiếng

Đông đủ chật người vào ra thăm viếng
Với những lời tiếc nuối lẫn nhớ thương
Con nhìn Cô, đau đớn luống đoạn trường
Chân khập khễnh, lần đi ra ngoài cửa

Từ hôm đó thầy trò không gặp nữa
Nhớ những lời Cô dạy để thành danh
Giúp đỡ tha nhân cuộc sống an lành
Biết tha thứ khi chọn nghề nhà giáo

PTL
18-8-2025





 1. Trăng Thu Dạ Khúc: Ngày giỗ Mẹ
Soạn giả: Tuấn Cò
Nghệ sĩ: Lạc Bước

Thắp.... nén hương tưởng niệm
Mẹ hiền ơi ! con nhớ thương
Đã mấy năm trường
Con xa Mẹ rồi
Mà con luôn ngỡ mới hôm qua
Lá rơi mỗi độ thu về lòng con nghe nhói đau
Mẹ hiền trên cao
Xin hãy yên lòng
Chúng con giỗ Mẹ
Quây quần cùng nhau
Ôn tích xưa

2. Tân nhạc: Ngày giỗ Mẹ

Sáng tác: Hùynh Quang Linh
Ca sĩ: Trường Sơn







15 tháng 10, 2025

VTM 179_Thu gợi nhớ_PTL

 


Trừơng Trung Học Đất đỏ, tỉnh Phước Tuy năm 1973 sau mùa hè đỏ lửa 1972. Một lớp học bị hủy hoại và những vết đạn còn trên tường .
PTL hướng dẫn học sinh cách cắm trại.

Thu gợi nhớ

Thu lành lạnh học trò tung tăng bước
Mặt hân hoan rộn rã tiếng vui cười
Gợi nhớ về hai tuổi quá đôi mươi
Chốn thôn dã xóm làng còn đổ nát

Ở nơi đó giao tranh chưa dập tắt
Lớp học vang rền tiếng súng đạn bay
Trăng mùa thu chiếu sáng tựa ban ngày
Mảnh gạch bể văng đầy nơi sân cỏ

Thu gợi nhớ ngôi trường nơi xóm nhỏ
Cảnh tiêu điều phía trước lẫn sân sau
Ngày khai trường nhộn nhịp với nôn nao
Lòng hớn hở mặc dù không toàn vẹn
PTL
Aug. 2025

hai tuổi quá đôi mươi: 2+20 : 22 tuổi. Tuổi tốt nghiệp đại học.


Họa 1:

Chiều Thu

Lá thu chuyển màu thầm buồn nhẹ bước
Xưa vô tư ít nói vẫn hay cười
Mới năm nào nay đã sắp hai mươi
Lòng trong trắng tâm hồn chưa tan nát

Chiều thu xuống nắng vàng chưa vội tắt
Theo gió chiều lá úa nhẹ nhàng bay
Cứ từng thu đếm lá rụng mỗi ngày
Con đường cũ bây giờ là thảm cỏ

Bờ đê lưng đồi dọc theo lối nhỏ
Ánh tà dương núp bóng phía rặng sau
Về quê xưa sao dạ thấy nao nao
Bao giông tố nhưng tâm hồn nguyên vẹn
Hương Lệ Oanh VA

Họa 2:

Chợt nhớ 

Vừa bừng sáng trẻ thơ vồn vã bước
Vui như chim rộn rã nói lẫn cười
Ngày tựu trường tấp nập đến mười mươi
Chợt đạn pháo từ đâu làm tan nát

Thật khủng khiếp! Niềm vui kia vụt tắt
Ôi máu xương ràn rụa xác xơ bay
Ai chỉ huy? Sao pháo kích đúng ngày
Lại nhắm đến ngôi trường làng mái cỏ

Tàn ác quá! Nghẹn ngào lòng hỏi nhỏ
Hậu quả này ai sẽ nhận về sau
Mấy mươi năm nhớ lại hết sức nao
Chiến tranh hởi! Lý tình sao cho vẹn
TQ
Oct. 03, 2025


Họa 3:

Thu cảm 

Đêm gió mát, khách nhàn du chậm bước,
Mảnh trăng thu xuyên lá hé môi cười,
Nhẩm tuổi đời đã vượt quá bảy mươi,
Bao sóng gió dập vùi đời hẩm nát.
 
Nhưng hy vọng chẳng bao giờ lịm tắt,
Trên trời xanh ngàn mây trắng còn bay,
Quả đất xoay đêm hết lại sang ngày,
Mưa rồi nắng vỗ về xanh lá cỏ.

Đường danh vọng chẳng so đo lớn nhỏ
Chốn trần hoàn lo trước ắt vui sau,
Chờ trăm năm lòng gợn chút nao nao…
Hồn thanh khiết hằng ước ao giữ vẹn. 
Minh Tâm

Họa 4:

Nhớ Trường xưa

Trời tháng chín khai trường em nhỏ bước
Mẹ dìu con mặt hớn hở tươi cười
Mang tình yêu khát vọng tuổi hai mươi
Thân lữ thứ nhớ quê nghèo rách nát

Trường tôi đó giữa chiến trường chưa tắt
Cảnh hiểm nguy đạn pháo kích mưa bay
Nhưng thầy cô vẫn đến lớp hằng ngày
Hoa vẫn nở trên nền xanh thảm cỏ

Đã xa lắc ngôi trường xưa nho nhỏ
Khắc trong lòng cổng trước lẫn vườn sau
Vẫn rộn ràng chân bước nhẹ nao nao
Mang tâm sự một đời chưa trọn vẹn!
Nguyễn Cang
Sept. 19, 2025


1. Tân nhạc: Ngày Tựu trường
Sáng tác: Thanh Sơn
Ca sĩ: Thúy Hà





2. Cổ nhạc: Lối Thu xưa
Soạn giả: Nguyễn Đức Cường & Quốc Dũng
Nghệ sĩ: Hồ Minh Đương




Tân Nhạc:

Chiều trả về khuôn viên
Sân trường em ngõ vắng im lìm
Thẫn thờ hàng cây nghiêng
Ôm hình em bé nhỏ dịu hiền

Đường trải dài thênh thang
Như hồn anh mở ngõ tuôn trào
Đếm thầm từng bước em đi
Anh ước mình như lá thu vàng.

Để dập dìu bên em
Hôn cài lên tóc xõa vai mềm
Để trải đường em đi
Đưa hồn em tới nẻo êm đềm

Và dạt dào yêu thương
Theo làn mây gởi đến bên người
Dâng trọn tình yêu cao vời
Em vẫn hoài ôm ấp bên đời.

Dâng trọn tình yêu cao vời
Em vẫn hoài ôm ấp... bên đời.

Vọng Cổ:

Câu 1:
Em ơi đường xưa em đi mình anh đếm bước, phượng đỏ trước sân khuôn viên vắng lặng.
Tìm bước em đi sân trường rêu phủ, hàng cây nghiêng nghiêng như chờ đợi bước chân... nàng.

Ôm hình em bé nhỏ dịu hiền.
Đường trải dài thênh thang như hồn anh mở ngõ.
Để âm thầm đếm bước em đi.
Em ơi, em có bao giờ ngoảnh mặt về sau.
Để bắt gặp có người đang chiêm ngưỡng.
Ôi mùa thu lá vàng rơi rụng trời lại xanh.
Mây trắng bay như màu áo cô em gái nhỏ.

Câu 2:
Em ơi lối thu xưa có người đang ước vọng.
Anh ước mình như chiếc lá thu vàng.
Để dập dìu bên em hôn lên gót chân nàng.
Để nhặt lại từng đường tóc rối.
Mà vô tình gió đã hôn lên.
Anh trải đường theo bước em đi.
Theo em đến nẻo êm đềm mộng ảo.
Và dạt dào gửi phút giây hạnh ngộ.
Dâng trọn tình này cho lối thu xưa.

Tân Nhạc:

Nhưng tháng năm vùi chôn đi bao ước mơ
Bao nỗi niềm buồn thương những đêm ngóng chờ
Đời chắt chiu sớm chiều muộn phiền hắt hiu
Em có còn trên lối thu xưa
Hay đã về nơi nẻo xa mờ.

Đời trả về cho anh
Sân trường xưa vàng võ u sầu
Đời dệt mộng em đi
Riêng mình em xót nỗi chia lìa.

Đường mộng nào em sang
Riêng mình anh tựa lá thu tàn
Biết lòng còn mãi mơ màng
Anh vẫn tìm em giữa mây ngàn.

[Biết lòng còn mãi mơ màng
Anh vẫn tìm em... giữa mây ngàn.]

Câu 5:
Lối thu xưa không còn em đếm bước.
Gót chân xưa nay đã về đâu nơi gió núi mây... ngàn.

Bao ước mơ xưa tàn tạ với thu vàng.
Anh sẽ vùi chôn niềm đau vô tận.
Khi sớm chiều mang nỗi sầu thương.
Sao em không còn đi trên lối thu xưa.
Em đã về đâu nơi xa mờ bụi cát.
Buồn phiền hắt hiu tiếng lòng tan nát.
Nhớ thương ai, anh mơ ước bên người.

Câu 6:
Đời trả về cho anh
Sân trường xưa vàng võ u sầu
Đời dệt mộng em đi
Riêng mình em xót nỗi chia lìa.

Đường mộng nào em sang
Riêng mình anh tựa lá thu tàn
Biết lòng còn mãi mơ màng
Anh vẫn tìm em giữa mây ngàn.

Sân trường vắng em nỗi buồn dâng da diết.
Lối thu này về hạ vàng mãi đi xa.
Tìm em trong tiếng nhạc lời ca.
Lối thu xưa đó em giờ nơi đâu.


13 tháng 10, 2025

Tú Tài_Song Thao

 Tú Tài

Song Thao
                           


Cho tới bây giờ, thỉnh thoảng trong giấc ngủ tôi vẫn nằm mơ tới chuyện thi Tú tài và giật mình tỉnh dậy, mừng húm mà mồ hôi vẫn đổ ra. Trong lần thi Tú Tài I, tôi đã thức đêm thức hôm học đến bị yếu phổi. Chữ “Tú Tài” nặng nhọc với tôi như vậy tuy nghĩa của nó là “đẹp đẽ, có khả năng, tài giỏi”.

Ông Tú Xương có lẽ cay đắng với chữ “Tú Tài” không kém gì tôi. Ông vác lều chõng đi thi tất cả 8 lần, từ khoa Bính Tuất (1886) tới khoa Bính Ngọ (1906). Ba lần đầu ông đạp vỏ chuối, tới lần thứ tư, năm Giáp Ngọ (1894), ông mới vớ được cái Tú Tài nhưng là Tú Tài đậu vớt, chữ ngày đó gọi là “Tú Tài Thiên Thủ”. Ông chết với cái danh Tú Tài, chẳng bao giờ kiếm được cái “Cử Nhân” mặc dù vẫn cặm cụi đi thi. Khoa Quý Mão (1903), ông đổi tên thành Trần Cao Xương để xả xui nhưng chân đạp vỏ chuối vẫn cứ dính vỏ chuối. Ông nổi cáu thành thơ: “Trách mình phận hẩm lại duyên ôi! / Đỗ suốt hai trường hỏng một tôi / Tế đổi làm Cao mà chó thế / Kiện trông ra tiệp hỡi trời ôi!”. Tôi thuộc loại chữ Hán ăn đong nên khựng lại với câu thơ cuối. Nghĩa nó là chi? Hỏi ông Google ông giải thích: “"Kiện" là một danh từ chỉ đơn vị đo lường, ở đây dùng để ám chỉ một vật gì đó rất nhỏ bé, "trông ra tiệp" ý nói nhìn mãi vẫn không thấy, ám chỉ sự vô vọng, không tìm ra lối thoát”. Hỏi ông AI (Trí Tuệ Thông Minh), ổng lại nói khác: “Kiện” chỉ những người đi thi. “Trông ra tiệp” có nghĩa là trông mong, trông đợi vào một kỳ thi để “tiệp” là “tiếp” hoặc “đạt được”. Ý nói là mong được thi đỗ”. Thôi thì xin lãnh hội hết mà trong lòng vẫn phân vân.
                           



Cái danh Tú Tài thời ông Tú Xương chẳng ra chi, dở dở dang dang, không được thi Hội, không được bổ làm quan, chỉ làm được giáo quèn tại quê. Muốn được bổ làm quan phải đậu Cử Nhân. Muốn có Cử Nhân phải đậu 4 kỳ thi Hương tức 4 lần Tú Tài, sau đó vào Huế dự kỳ thi Hội để có thể lấy bằng Cử Nhân hoặc Tiến Sĩ. Người chỉ đậu 2 Tú Tài gọi là Tú Kép, 3 Tú Tài gọi là Tú Mền, 4 Tú Tài được gọi là Tú Đụp. Nhà thơ Tú Xương thi cả thảy 8 lần nhưng không đậu đủ 4 phùa nên về…làm thơ!

Việc thi cử ở nước ta khởi đầu vào năm 1072, thời nhà Lý nhằm chọn người tài ra giúp nước. Trước đó, việc tuyển chọn người ra làm quan chỉ là tùy tiện, không có phép tắc chi. Trong “Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí” của Phan Huy Chú, chương Khoa Mục Chí, có ghi: “Con đường tìm người tài giỏi, trước hết là khoa mục, phàm muốn thu hút người tài năng, thì người làm vua một nước không thể nào không có thi cử”. Thời kỳ manh nha của thi cử tại Việt Nam, tỷ lệ thi đỗ quá thấp, việc học lại quá từ chương, khiến có nhiều sĩ tử lận đận cả đời với thi cử. Ông Đoàn Tử Quang bắt đầu dự thi từ năm 20 tuổi, thi tới 21 lần, mãi tới tuổi 83 mới công thành danh toại. Ngặt nỗi mỗi ba năm mới mở một kỳ thi nên cơ hội không nhiều. Ông nội của Ngô Tất Tố đi thi 7 lần, bố Ngô Tất Tố khăn gói dự thi 6 lần. Ông Ngô Tất Tố hên hơn, chỉ phải thi có 2 lần. So với tiền nhân, nỗi buồn thi cử của ông Tú Xương nào có thấm chi!

Chữ “Tú Tài” được vua Minh Mạng ban ra vào năm 1828. Trước đó người đậu kỳ thi Hương được gọi là “Sinh Đồ”. Tới thời Pháp thuộc, bằng tốt nghiệp trung học Pháp được gọi là “Baccalaureat”, mượn từ chữ La Tinh thời Trung Cổ “Baccalaureus” có nghĩa là “Thanh niên quý tộc muốn trở thành hiệp sĩ”. Niên khóa 1926-1927, nhà cầm quyền mới lần đầu tiên tổ chức kỳ thi “Bacalaureat de l’Enseignement Secondaire Local”, người ta dùng ngay chữ “Tú Tài” thành “Tú Tài Bổn Quốc” tuy hai chữ “Baccalaureat” và “Tú Tài” chẳng ăn nhậu chi với nhau. Baccalaureat tại Pháp thi hai kỳ: Bacalaureat I và II trong khi Tú Tài Bổn Quốc thoạt đầu chỉ có một kỳ duy nhất. Tuy chỉ có một kỳ nhưng thí sinh vất vả hơn nhiều vì phải học nhiều môn mà Tú Tài Tây không có như: văn chương Pháp và Việt, Triết Đông và Cận Đông, triết Tây, toán, khoa học, chữ Nho, sử địa tây lẫn ta. Thí sinh học ná thở. Thi cực khổ như vậy nhưng không phải tự nhiên mà thực dân tạo ra kỳ thi Tú Tài Bổn Quốc. Các cụ thời đó phải tranh đấu mới có chuyện thi bằng này. Cụ Bùi Quang Chiêu với tờ La Tribune Indochinoise, cụ Nguyễn Phan Long với tờ Echo Annamite, công kích kịch liệt nhà nước áp dụng chế độ ngu dân chỉ cho dân chúng học tới trình độ Trung học Đệ Nhất Cấp chứ không cho học cao hơn nữa. Tới niên khóa 1937-1938 bằng Tú Tài Bổn Quốc bị bãi bỏ. Tú Tài Tây được tổ chức thi thay thế. Tú Tài Tây nên ngôn ngữ chính là tiếng Tây. Năm 1945 Hoàng đế Bảo Đại ra đạo dụ dùng chữ Quốc ngữ trong các kỳ thi Tú Tài nhưng phải qua tới thời Đệ Nhất Cộng Hòa tiếng Việt mới được đưa vào làm ngôn ngữ chính trong các kỳ thi Tú Tài.

Khi di cư vào Nam vào tháng 7/1954, tôi theo học lớp Đệ Tam tại trường Chu văn An và tham dự kỳ thi Tú Tài I vào mùa hè năm 1956. Tôi theo học ban Văn Chương, gọi là ban C. Tôi không thích các môn toán, lý, hóa và vạn vật nên không theo các ban A và B. Khi thi Tú Tài I hệ số của các môn chính Việt văn, Anh văn và Pháp văn có hệ số 3, các môn khác có hệ số 1 hoặc 2. Toán hay Lý Hóa nếu làm đúng rất dễ được điểm 18/20 hoặc 19/20. Nhân với hệ số 3 vì đó là các môn chính của các ban A và B. Kết quả là dễ đậu hơn ban C. Ban C các môn chính có hệ số 3 là Việt văn, Anh văn và Pháp văn khó mà được điểm 12/20 hoặc 13/20. Năm tôi thi Tú Tài I, số thí sinh trúng tuyển của ban C chỉ có 10%. Mười anh chị ứng thí chỉ có một được nêu danh. Ngày đó có lối tuyên bố kết quả thi rất đau tim. Tới giờ tuyên bố, thí sinh và phụ huynh tập họp trong sân trường hồi hộp theo dõi xướng tên người trúng tuyển trên máy phóng thanh. Khi chiếc máy phóng thanh è è kêu, mọi con tim treo lên trong hồi hộp. Con số báo danh được đọc nhảy như cóc. Có lúc nó nhảy qua cả một phòng không có ai đậu.

Được xướng tên chưa chắc đã thành Tú Tài vì còn kỳ thi vấn đáp. Thi vấn đáp tựa như ra tòa án. Trực tiếp đối diện với các phán quan mặt sắt đen xì. Theo tôi nhớ thì trong các kỳ thi vấn đáp ngày đó tôi không bao giờ gặp một nữ giáo sư. Nếu được đối diện với mặt hoa da phấn chắc sẽ dễ chịu hơn. Phần lớn các giám khảo hỏi vấn đáp đều làm theo lương tâm nghề nghiệp, cho rút thăm câu hỏi, dành 10 phút cho thí sinh sửa soạn trước khi mặt đối mặt trả lời. Nhưng cũng có những trường hợp ngoại lệ. Tôi đã kể đâu đó vài trường hợp mà chính tôi và chú em tôi gặp, nay chỉ nhắc lại qua loa. Hung thần của môn vấn đáp Pháp văn hồi đó là Giáo sư Võ văn Lúa, có vợ đầm. Gặp ông phần lớn là…lúa đời! Vậy mà tôi gặp ông. Khi tôi đang ngồi sửa soạn câu đáp, bỗng nghe thấy ông đập bàn rầm rầm quát anh bạn đang thi: “Nếu anh là con trai tôi, tôi sẽ tát cho anh một cái!”. Tôi ngồi run như cầy sấy. Tới lượt, tôi lên bảng trả lời khá trôi chảy, ông cám ơn, tôi liếc cây viết trên tay ông, thấy ông ghi số điểm 13/20. Nhưng chuyện sau đó mới vui. Một anh bạn cùng lớp không qua khỏi kỳ thi viết, chưa bao giờ vào vấn đáp, bỏ học ngang nhưng thành công trong cuộc sống với nghề phóng viên nhiếp ảnh chiến trường cho các hãng thông tấn Mỹ, sau này mời tôi đi ăn cưới anh. Cô dâu bữa đó chính là con gái thầy Lúa! Chú em tôi bị một ông Thầy dạy Pháp văn đì khi theo học ông trong lớp Đệ Nhị tại trường Chu văn An. Khi ông thấy tên chú được vào vấn đáp, ông cất công đi tìm phòng thi của chú. Khi thấy chú ngồi, ông ngang nhiên vào rỉ tai ông thầy đang hỏi vấn đáp. Và ông này đã đánh rớt. Sau này cả ông thầy đánh rớt và chú em tôi bị nhốt chung trong tù cải tạo của cộng sản. Hai người chung một đội. Khi chú em tôi được thả, tôi hỏi có nhắc lại chuyện xưa không, chú lắc đầu. Khi đó cùng chung cảnh tù tội, làm khổ thêm nhau làm chi. Hai ông này hồi đó đều là giáo sư trẻ khá nghênh ngang. Họ coi trời bằng vung bỏ quên lương tâm nhà giáo. Năm thi Tú Tài II, tôi gặp một ông giáo sư cũng cùng băng trẻ nhưng dạy Anh văn. Năm đó ông hỏi vấn đáp 13 thí sinh. Tôi trả lời câu hỏi theo những gì được học trong chương trình lớp Đệ Nhất C. Ông dè bỉu cho đó chỉ là những kiến thức căn bản, ông muốn câu trả lời sâu hơn. Chương trình học không dậy, lấy đâu kiến thức sâu hơn. Ông tặng tôi con số 3 điểm, điểm loại. Năm đó tôi rớt vấn đáp. Không chỉ tôi dẵm vỏ chuối, tất cả 13 thí sinh gặp ông đều nhận số điểm loại 3/20. Khóa thi thứ hai năm đó, ông bị cấm chấm thi. Sau này, khi Hội Cựu Học Sinh Chu Văn An tại Montreal tổ chức họp mặt, có quầy sách mà các Giáo sư và cựu học sinh là tác giả, ông có vài cuốn sách dịch và ngồi ký sách cạnh tôi. Dĩ nhiên ông không nhận ra tôi nhưng tôi sao quên được ông. Tôi cũng chẳng nhắc chuyện xưa làm chi. Cùng tha hương, vui chi mà làm buồn lòng nhau.

Các ông giáo sư trẻ ngày đó mà tôi kể trên đã ngông nghênh không kể chi tới đám học sinh chúng tôi. Không biết sau này các ông ấy có lúc nào nghĩ lại chuyện ác đức các ông làm khi thời của các ông đang thịnh. Họ đùa giỡn trên công sức học tập ngày đêm đến võ vàng của học sinh. Họ hủy hoại tương lai của học sinh khi chúng tôi phải cắm đầu học dưới đôi mắt săm soi của ông Bùi Đình Đạm. Đại Tá Bùi Đình Đạm, sau này lên tướng, là Giám Đốc Nha Động Viên. Nếu thi rớt sẽ nhận được giấy mời của ông tướng này ngay. Chưa có tấm bằng Tú Tài I trong tay sẽ được nhập trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế để ra Trung sĩ. Đây là một đau xót thành thơ. “Rớt Tú Tài anh đi Trung Sĩ / Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con / Mai sau xong chuyện nước non / Khi về anh có Mỹ con anh bồng”. Trong bản nhạc “Thà Như Giọt Mưa”, Phạm Duy phổ thơ Nguyễn Tất Nhiên cũng não nùng không kém khi rớt Tú Tài: “Ta hỏng Tú Tài / Ta hụt tình yêu / Thi hỏng mất rồi / Ta đợi ngày đi / Đau lòng ta muốn khóc / Đau lòng ta muốn khóc”. Bài thơ cùng tên của Nguyễn Tất Nhiên không có đoạn bi ai này. Phạm Duy đã thêm vào khi phổ nhạc.

Đất nước đang trong tình trạng chiến tranh, chuyện tòng quân là chuyện của mọi thanh niên. Tuy nhiên nhà cầm quyền vẫn phải duy trì sự phát triển của quốc gia. Thế hệ chúng tôi ngày đó cắm đầu học không phải để trốn tránh việc mặc áo ka ki nhưng với kiến thức thu thập được, chúng tôi sẽ phục vụ hữu hiệu hơn. Những người có bằng cấp, trở thành những chuyên viên, trước sau cũng khoác áo lính, nhất là khi có lệnh tổng động viên sau trận tổng công kích của Việt cộng vào dịp Tết Mậu Thân. Sau thời gian huấn luyện ở quân trường, giáo sư và chuyên viên được biệt phái về nhiệm sở cũ để những con người văn võ toàn tài tiếp tục đem hết khả năng ra giúp nước.
                           



         
Cái bằng Tú Tài như nấc thang cần thiết để chúng tôi leo lên cho địa vị cá nhân cũng như cho sự cống hiến hữu hiệu hơn cho đất nước. Vậy mà cuộc tuyển lựa thật gian truân. Tỷ lệ đậu không nhiều. Tôi đã cố tìm kết quả các kỳ thi Tú Tài trong thời kỳ này nhưng tài liệu thu thập được chưa vừa ý. Theo Wikipedia thì năm 1964, tỷ lệ trúng tuyển Tú Tài I là 22%, Tú Tài II là 32%. Theo một tài liệu khác thì tỷ lệ đậu Tú Tài I chỉ vào khoảng 30% tới 35%. Tỷ lệ đậu Tú Tài II  khá hơn, khoảng từ 35% đến 45%. Điều này dễ hiểu vì trình độ học sinh lớp Đệ Nhị không đồng đều bằng trình độ học sinh lớp Đệ Nhất vì đã được gạn lọc trong kỳ thi Tú Tài I. Tỷ lệ đậu của học sinh trường công thường cao hơn học sinh trường tư vì học sinh trường công đã được gạn lọc khi thi vào lớp Đệ Thất. Tỷ lệ đậu nói trên là tính chung cả ba ban A, B và C trong mỗi kỳ thi. Nếu tính riêng thì tỷ lệ đậu của thí sinh ban C ít hơn nhiều.
Kết quả ban C của Hội đồng thi Sài Gòn năm tôi dự thi vào cuối thập niên 1950, chỉ có khoảng 50 Tú Tài trên khoảng 500 thí sinh. Tỷ lệ là 10%. Sáng hôm sau, các báo đăng kết quả. Tên thí sinh vượt qua vũ môn được in chữ hoa trang trọng trong một khung hoa văn được đặt tên là: “Bảng Hổ Đề Danh”.
Thi như vậy là thi loại bỏ chứ không phải là thi kiểm tra trình độ của học sinh. Có lẽ giới chức giáo dục cũng nhận thấy như vậy nên các kỳ thi được cải tổ dần. Niên khóa 1968 bỏ phần thi vấn đáp. Năm 1973 bỏ kỳ thi Tú Tài I. Năm 1974 thi Tú Tài được tổ chức theo lối thi trắc nghiệm IBM. Tỷ lệ thí sinh vượt vũ môn tăng hẳn.

Thời gian chúng tôi vác bút đi thi Tú Tài, ông nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng ngày đó có bản “Mùa Thi” rất thấm thía. “Hôm nay: ngày thi / Bao nhiêu người đi / Xe! rộn rịp / Lớp! tràn người niềm vui vấn vương / Thi ơi là thi! / Sinh "mi" làm chi! / Bay, Nghẹn ngào / Bám, ồn ào / Buồn vui vì "mi" / Đây, bao bộ mặt cười ra nước mắt than câu: "Học tài thi phận" / Đây, bao tiếng cười đắc chí khoe rằng: "Phen này tao trượt thì ai đậu cho" / Hôm nay còn thi / Mai kia còn thi / Ôi! Đời đời khóc cùng cười hòa theo mùa thi”.


Hôm nay còn thi. Mai kia còn thi. Tính từ ngày tôi khổ sở lấy cho bằng được cái Tú Tài, tới nay đã ngót nghét bảy chục niên. Vậy mà tôi vẫn còn thi Tú Tài. Trong những cơn ác mộng!
Song Thao                                                                    
09/2025           


Chú thích:
1. Nhạc sĩ Đỗ Kim Bảng sáng tác bài Mùa thi năm 1951. 
Trước 1975 Trần-Lâm Phát có dạy chung với ông ở trường TH tư thục Lĩnh Nam , đường Trần Hoàng Quân, quận 5, Sài gòn,  bên cạnh hãng bia Larue.

2. Trong nước đang ồn ào họp hành ở quốc hội để bàn cãi bỏ hay giữ kỳ thi tốt nghiệp phổ thông , mình gọi là thi tú tài, trước năm 1973 còn tú tài 1 và tú tài 2, sau đó bỏ thi tú tài 1.
Với hắn nên bỏ thi, không cần thiết với thời đại này...học sinh nào không học, không đỗ vào được đại học 
là tự lo cho nghề nghiệp tương lai ? Cái quan trọng là ngày càng nhiều học sinh lớp 12, tổ chức việc học trong trường lớp đàng hoàng, chỉ cần đạt yêu cầu là được. Kiến thức học sinh tốt nghiệp trung học ngày nay sẽ không đủ để tìm một việc ngoài xã hội ngoài công việc lao động tay chân.
Trung học là học tất cả mọi thứ mọi môn trong 7 năm học, thứ gì cũng biết nhưng chỉ là đại cương, có năng lực về môn nào thị học tiếp nơi đại học chuyên môn hơn.
Hắn sống ở Bỉ, nơi đây không có tổ chức thi "bac" ( tú tài) giống như Pháp, chỉ kiểm tra quy mô cuối năm đủ trung bình là có chứng chỉ tốt nghiệp, không đủ cho thi lại môn nào chưa đạt, vẫn chưa đạt đủ, học lại. 
Đại học cũng có những trường phải thi tuyển, những phân khoa ghi danh tự do giống Việt Nam cộng hòa ngày trước ngoài ra còn có những trường chuyên nghiệp, trường nghề.
Ngày trước ở Việt Nam nếu không đỗ vào được chuyên khoa, dễ dàng ghi danh vào các phân khoa như khoa học, luật, văn khoa, chính trị kinh doanh... sau còn có thêm những đại học tư ngoài ra cũng còn những trường dạy nghề để hướng dẫn học sinh...thời chiến tranh, luật động viên thay đổi liền liền rồi đôn quân, sinh viên học mà như chỉ treo mành không được phép rớt nếu còn muốn học.
Thời hắn học trung học, thi xong trung học đệ nhất cấp giống như của Pháp gọi là BEPC là đến tuổi phải làm thẻ trưng binh để làm tờ khai văn bằng và địa chỉ để biết thuộc tài nguyên nào(sĩ quan, hạ sĩ quan hay binh sĩ) căn cứ theo tờ khai văn bằng và địa chỉ để quy định cho số tuổi được tiếp tục đi học hay vào quân đội. 
Hắn gởi các bác bài viết về "tú tài" của bác Song Thao, bài viết vào thời của ông có phần khó khăn trong việc thi cử nhưng bù lại tuổi được theo học có phần cao hơn sau luật tổng động viên vì trước năm mậu thân, lớp đệ nhất hắn học 20 tuổi vẫn còn được học chưa bị gọi nhập ngũ, nhưng chỉ sau Mậu thân 1968 vài tháng là thay đổi hoàn toàn. Trường bộ binh Thủ Đức có đến 7 khóa vào năm 1968, thiếu chỗ học nhiều khóa phải đưa ra trường hạ sĩ quan Đồng Đế ở Nha Trang và đến năm 1972 sau vụ "mùa hè đỏ lửa" tình trạng hoãn dịch lại co cụm hơn nữa vì luật đôn quân mới.
Ara




05 tháng 10, 2025

CAO HỔ CỐT_Dược sĩ Trần Thanh Cảnh

 CAO HỔ CỐT

- Tác giả: Dược sĩ Trần Thanh Cảnh
Dịp gần đây, có khá nhiều người bạn cả trên mạng lẫn ngoài đời hỏi tôi câu trên. Có lẽ bởi nhiều người biết tôi là dược sỹ, lại có thời gian khá dài làm việc ở miền núi, cũng từng hành nghề nấu cao khá nhiều năm. Nhưng trả lời câu hỏi này qua một vài tin nhắn, không hết lẽ. Còn ngồi nói chuyện cả buổi thì cùng không có thời gian. Nên tôi dành thời gian viết một bài, về cao hổ cốt nói riêng và cao xương các loại động vật nói chung, hy vọng cung cấp thông tin cho mọi người.
Con hổ, tên khoa học: Panthera tigris, họ mèo: Felidae. Là một loại động vật có vú, ăn thịt. Dân gian nước ta gọi là cọp, hùm, hổ, ông ba mươi…
Ở góc độ thức ăn và vị thuốc, toàn thân con hổ giá trị nhất là bộ xương, để đem nấu cao. Xương hổ được làm sạch, đập nhỏ, nạo bỏ tủy, phơi sấy sao tẩm rồi đem đi đun nấu, rút lấy dịch chiết, cô đặc thành cao hổ. Một bộ xương hổ trưởng thành thường nặng từ 5 đến 15 kg, tùy theo.
Tỷ lệ cao thu được khoảng 20% trên trọng lượng xương. Bộ xương hổ có các đặc điểm định tính không thể trộn lẫn với xương các loài động vật khác, như ở xương bả vai của nó có một lỗ nhỏ, gọi là lỗ thông thiên. Và tỷ lệ các bộ phận trong cả bộ xương hổ trưởng thành rất ổn định: Xương đầu đủ răng chiếm 15%, xương 4 chân là 52%, xương sống chiếm 14%, xương sườn là 5,5%, xương chậu 5,5%, xương bả vai chiếm 4%, xương đuôi 2,2%, và 2 xương bánh chè chiếm 0,45%.
Thành phần hóa học trong xương hổ đã được nghiên cứu kỹ: có nhiều collagen, các muối can xi như canxi phôt phát, can xi cac bon nat, mỡ, và một số muối khoáng khác…
Collagen là thành phần chính của xương hổ. Trong collagen xương hổ, lượng acid amine khi thủy phân thu được sau quá trình nấu cao rất lớn, gấp nhiều lần xương các loài động vật khác. Nhưng sau khi thành ra sản phẩm là cao động vật có thể sử dụng thì lượng acid amin trong cao hổ cũng lại gần giống như cao của các loài khác như cao gấu, cao khỉ, cao ban long, cao xương động vật hỗn hợp…
Nó đều dao động trong khoảng 14,39% - 16,66%. Như vậy bạn sử dụng cao hổ hay cao xương động vật hỗn hợp như ngựa, trâu, bò… thực chất là đang đưa vào cơ thể một lượng acid amin mà thôi. Bởi như đã từng nói, cấu trúc collagen làm nên hình thể và sự vững chắc của bộ xương các loài có thể khác nhau. Thế nhưng tất cả các collagen kia, sau quá trình thủy phân dưới tác động của nhiệt độ, thời gian, đều trở thành các acid amin thiết yếu, không có gì khác nhau. Đến lúc này, cao hổ cũng xêm xêm như một loại cao xương động vật nào đó, không hơn không kém.
Trong y học cổ truyền cao hổ thường được dùng làm thuốc bổ dương, vì có nhiều đạm. Ngoài ra nó còn được dùng làm thuốc giảm đau, mạnh gân cốt, trừ tê thấp. Nhưng những tác dụng này mang tính truyền thuyết nhiều hơn là thực chứng.
Còn y học hiện đại, hầu như không có một công trình nào nói về tác dụng của cao hổ! Với y học hiện đại, cao hổ cũng như cao xương các loại động vật khác, thường không được xếp loại là thuốc, mà chỉ là thực phẩm chức năng, có tác dụng cung cấp acid amin cho cơ thể. Nhưng xin hỏi bạn, trong thời đại hiện nay, chúng ta có thiếu thốn nguồn cung cấp acid amin không? Khi mà thức ăn hàng ngày của đa số hiện tại đang không thiếu thịt, cá, tôm, cua… các loại, nguồn cung cấp acid amin tươi ngon bổ rẻ, lại nhanh. Sao phải đợi đi săn hổ nấu cao cầu kỳ vậy? Còn với người ốm yếu suy kiệt do không ăn được, hiện đã có sẵn các loại dung dịch tiêm truyền acid amin để truyền nhỏ giọt thẳng vào máu, đảm bảo an toàn và hấp thu tuyệt đối, người bệnh sẽ rất nhanh hồi phục.
Quy trình nấu cao hổ cũng gần như quy trình nấu cao xương một loại động vật nào đó. Đều bắt đầu từ làm sạch xương, sao tẩm, đưa vào nấu, rút dịch chiết ra cô đặc, đóng bánh, xong.
Thế nhưng với cao hổ, vì là xương của ngài chúa rừng xanh nên người ta thường vẽ thêm những nghi thức thần bí, để tăng thêm cái sự oai linh quý báu, thực chất ngày nay ta gọi là PR, để tăng giá trị của sản phẩm, thế thôi. Còn thực tế thì cao hổ hiện nay bị làm giả, bị pha chế thêm cao khác khá nhiều.
Dân nấu cao hổ chuyên nghiệp từng có câu “phi sơn dương bất thành cao hổ”! Xương của loài dê núi rất được các tay nấu cao hay pha trộn vào. Nhưng như thế còn khá tử tế, bởi rất nhiều tay nấu cao còn rỉ tai nhau một bí quyết “gia truyền” là, khi sắp thành cao, họ pha thêm một lượng cao thuốc phiện cô đặc vào. Nên khi uống cao hổ, người ta thấy khỏe mạnh, hưng phấn, mọi đau đớn tiêu tan tức khắc: tác dụng của morphine (ma túy) có trong thuốc phiện!
Thật là nguy hiểm và không chừng có thể dẫn đến nghiện ngập. Nhưng thật may, với giá thành đến mấy chục triệu đồng một lạng (100 gram) nên hình như cũng ít người đủ tiền mua dùng hàng ngày để mà có thể thành con nghiện ma túy một cách vô tình như thế. Một kiểu pha chế đơn giản rẻ tiền nữa họ cũng hay dùng đó là cho thêm một lượng lớn thuốc dexamethasone, một thứ thuốc giảm đau xương cốt mình mẩy cực kỳ hiệu quả vào.
Và kết quả là các bạn, đang đau mình mẩy, uống lạng cao hổ đắt tiền cứ tưởng là thần kỳ, biết đâu đó chỉ là tác dụng của những viên dexamethasone vốn vô cùng phổ biến, rẻ tiền bán đầy ở các nhà thuốc.
Ở nước ta hổ hầu như đã tuyệt chủng. Trên thế giới, nhiều nơi còn hổ tự nhiên. Thế nhưng hiện nay hổ đã được đưa vào danh sách đỏ, cấm săn bắt và buôn bán. Thế nhưng cao hổ vẫn được âm thầm lưu hành, buôn bán khá nhiều. Thậm chí có lúc có chỗ còn khá công khai. Nguồn này ở đâu ra vậy?
Xin thưa là hiện trên thế giới có khá nhiều trang trại nuôi hổ như ở Thái Lan, miền nam Trung Quốc và đặc biệt ở Nam Phi, nơi họ có những trang trại rộng mênh mông, chăn thả rất nhiều động vật hoang dã từ hổ, sư tử… để bán giấy phép săn bắn. Rồi từ đó những sản phẩm cao hổ được tung ra thị trường cho những người vẫn còn mê muội tin dùng.
Hy vọng sau khi đọc bài này, các bạn không còn mối quan tâm gì nữa về loại sản phẩm “thần kỳ” của một thời u tối nữa!
• DS. TRẦN THANH CẢNH