13 tháng 5, 2026

Nhớ thi sĩ Phạm Thiên Thư_Mai Khánh Thư - Phạm Doanh Môn

Thi sĩ Phạm Thiên Thư vừa rời cõi tạm ngày 7/5/2026 tại Sài Gòn, hưởng thọ 86 tuổi. Tin ông mất khiến nhiều người yêu thơ và âm nhạc Việt Nam bùi ngùi, bởi ông là một trong những thi sĩ mang ý thơ riêng biệt và nhẹ nhàng nhất của văn học miền Nam trước năm 1975.

Thơ ông mang một ý tưởng rất lạ: vừa tha thiết với đời sống, vừa bảng lảng khói sương thiền môn. Có lẽ vì từng có thời gian xuất gia với pháp danh Tuệ Không nên trong thơ ông luôn thấp thoáng tiếng chuông chùa, nỗi buồn vô thường và sự dịu dàng rất Á Đông.

Tên tuổi Phạm Thiên Thư gắn liền với những bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc như: “Ngày xưa Hoàng Thị”, “Đưa em tìm động hoa vàng”, “Gọi em là đóa hoa sầu”, “Em lễ chùa này”… Những ca khúc ấy đã đi qua nhiều thế hệ như một miền ký ức đẹp của tuổi trẻ Việt Nam.


Xưa tan trường về
Anh theo Ngọ về
Đôi chân mịt mù
Theo nhau bụi đỏ đường mưa…

Năm 1973, ông đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm: Hậu truyện Kiều - Đoạn Trường Vô Thanh.





Năm 2013, nhờ hai em Trần Ngọc Bách và Nguyễn Thanh Phong, chúng tôi có dịp gặp ông tại quán cà phê Hoa Vàng trên đường Hồng Lĩnh, quận 10. Quán nhỏ, yên tĩnh và mang đúng không khí thơ mộng như chính con người ông.











Hôm ấy, khi được hỏi về nhân vật Hoàng Thị Ngọ trong bài thơ nổi tiếng “Ngày xưa Hoàng Thị”, ông chỉ cười hiền. Ông kể đó là một kỷ niệm học trò rất nhẹ nhàng, khi ông và cô Ngọ học cùng lớp đệ tam ở trường tư thục Kiến Thiết. Những buổi tan trường, cô lặng lẽ đi về còn ông âm thầm theo phía sau trên con đường bụi đỏ. Chỉ vậy thôi, mà đủ để thành thơ.

Giờ đây, người thi sĩ của “động hoa vàng” đã đi xa. Nhưng những câu thơ và giai điệu ông để lại vẫn còn ở đó, như một tiếng chuông chiều ngân rất nhẹ trong ký ức người yêu thơ Việt.

12/5/2026

Mai Khánh Thư - Phạm Doanh Môn

09 tháng 5, 2026

Phạm Thiên Thư, Có Ngần Ấy Thôi_Nguyễn Đức Tùng

 


Phạm Thiên Thư, Có Ngần Ấy Thôi

02-22-2023, 10:25 AM
PHẠM THIÊN THƯ, CÓ NGẦN ẤY THÔI


Nguyễn Đức Tùng


(gởi Hoàng thị Hạnh)



Thơ Phạm Thiên Thư là thơ để ngâm, để hát, là chanson poétique.

Tiếng em hát giữa giáo đường
Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng

Đúng ra, thơ ông có điệu nói lẫn điệu hát.Là tu sĩ Phật giáo nhưng vẫn nhắc đến Chúa: đó là tinh thần tự do của Phạm Thiên Thư. Nhiều người cho rằng thơ ông được phổ biến là nhờ ca khúc do Phạm Duy phổ nhạc, hoặc vì ông là thi sĩ kiêm thiền sư, những cái ấy đều có thể đúng cả, nhưng thơ không hay thì không ai nhớ. Vậy phải có mấy thứ cùng lúc: văn hóa và văn bản. Nhà phê bình Đặng Tiến có một nhận xét thú vị rằng câu “rằng xưa có gã từ quan” là câu thơ được nhớ nhiều nhất. Điều đó quả nhiên đúng, nhưng tôi nghĩ có lẽ vì nó được phổ nhạc, và là câu mở đầu của bài hát. Nếu Phạm Duy chọn câu khác, ví dụ câu thứ nhất của Động hoa vàng “Mười con nhạn trắng về tha,” thì biết đâu câu ấy lại nổi tiếng hơn?
Bạn nói vậy hoá ra câu “rằng xưa” ấy không có giá trị gì? Cũng không phải thế. Đó là câu nghe qua cũng tầm thường, nhưng với lối nói lửng lơ, nhiều hư từ, của người Việt, nó lại gợi ra nhiều thứ. Nó mở ra, mông lung. Bùi Giáng có nhiều câu như vậy. Một chữ thành công phải đúng thời điểm, mở đúng cánh cửa. Mà một cánh cửa chỉ có một người mở. Nhưng trước hết nó phải kết tụ tiếng nói của dân tộc, như một thứ “tổng kết thời đại.” Ở miền Nam ai không thấy cảnh nữ sinh áo dài tha thướt ùa ra cổng giờ tan trường, nhưng phải đến Phạm Thiên Thư, thơ mới bật ra bốn chữ:

Em tan trường về

Cũng một trường hợp khác, ví dụ, Nguyễn Tất Nhiên, với:
Có còn hơn không

Mà ông thường có những câu những chữ như thế. Đây là một ví dụ khác:

Thì thôi mù phố xe đường
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

Nhiều hư từ. Nhưng trong lần đọc đầu tiên, tôi nhớ liền. Những chữ như thế xưa nay vẫn dùng, nhưng khi kết hợp lại, chúng trở nên mới.
Có ngần ấy thôi

Tất nhiên là từ câu Kiều:
Ái ân ta có ngần này mà thôi

Nhưng tám chữ ấy tuy hay thì hay thật (Nguyễn Du mà không hay?), lại rõ ràng, cay đắng quá. Cắt ra bốn chữ: thành mơ hồ. Cái gì ngắn cũng mơ hồ. Chỉ có một chữ thần tình phải giữ lại, chữ ngần. Chữ ấy được ông dùng tới vài lần nữa. Phạm Thiên Thư láy ca dao:

Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng

Động tác leo trèo là quan trọng nhất, trèo lên cây bưởi hái hoa, chứ không phải chữ, vậy nên thi sĩ đổi phắt chữ trèo trong ca dao thành leo, miễn nó hợp vần. Một câu thơ hay không bao giờ để chúng ta yên. Nó đánh thức người ta như tiếng chuông. Đang ngủ, nó dựng bạn dậy. Ủa, tiếng chuông văng vẳng đâu vậy kìa?

Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ

Có bạn còn tưởng mình đang ở Tô châu, gần chùa Hàn san.
Thì ra sự nối kết của loài người lớn hơn nỗi cô đơn của họ.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư lúc còn trẻ chụp trước căn nhà có cây hoa vàng trong khu cù lao Phan Xích Long, Phú Nhuận
(Tự Trung chụp lại từ ảnh riêng của Phạm Thiên Thư)

Tôi cần nhấn mạnh rằng mặc dù tạo ra chữ mới hay tập hợp các chữ mới là một đóng góp của Phạm Thiên Thư, chính khuynh hướng thẩm mỹ của ông, tư duy nghệ thuật của ông, phù hợp với thời đại của mình, mới là nguyên nhân làm cho thơ ông có giá trị lâu dài. Ngay những bài thơ đầy hoài niệm cũng biết lay gọi, đặt câu hỏi. Những câu hỏi kín đáo, xa vời, nhưng ám ảnh. Bài thơ đầu tiên của Phạm Thiên Thư là bài tôi vừa nhắc, “Vết chim bay”:
Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ
Con chim nào qua đó
Còn để dấu chân in
Anh một mình gọi nhỏ
Chim ơi biết đâu tìm
Mười năm anh qua đó
Còn vẫn dấu chân chim
Anh một mình gọi nhỏ
Em ơi biết đâu tìm
Ngày xưa anh đón em
Trên gác chuông chùa nọ
Bây giờ anh qua đó
Còn thấy chữ trong chuông
Anh khoác áo nâu sồng
Em chân trời biền biệt
Tên ai còn tha thiết
Trong tiếng chuông chiều đưa

Ngày xưa em qua đây
Cho tình anh chớm nở
Như chân chim muôn thuở
In mãi bậc thềm rêu
Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tướng
Hay một vết chim bay!

Nhịp năm chữ. Bài này được Cung Tiến phổ nhạc, hình như trước Phạm Duy với “Ngày Xưa Hoàng Thị,” nhịp bốn chữ. Nếu là bài thơ đầu tiên thì cũng hợp lý, vì ngôn ngữ mộc mạc, không tài hoa như bài kia. Tuy vậy đã lộ ra phong cách riêng trong những câu như:

Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng

Những chữ như “vô lượng” hay “giả tướng” của nhà Phật lần đầu được đưa vào thơ, mà đưa tài tình. Nghệ thuật của Phạm Thiên Thư nhấn mạnh ở sự lặp lại. Âm nhạc là lặp lại, hay trùng điệp. Trong một bài thơ ngắn, chữ chim xuất hiện năm lần, chữ chuông bốn lần. Trùng điệp (repetition) là thứ dễ nhất mà cũng khó nhất trong nghệ thuật tu từ. Bên cạnh chữ và nhạc điệu, thơ Phạm Thiên Thư có hình ảnh đẹp, nhưng mang tính tượng trưng. Chẳng hạn, hoa trong thơ ông, hoa đào, hoa lan, hoa vàng, cũng nhiều như hoa trong Thơ mới, trong thơ Chế Lan Viên sau này, nhưng chúng hiện hữu như biểu tượng: nhà thơ không mô tả một bông hoa cụ thể; không cảm xúc vì một cái bông riêng biệt nào; chúng xuất hiện như cái phông (background) hay như một đại diện, gây ra các liên kết. Con người khác nhau, cô đơn, nhưng đó chỉ là những quan sát bề mặt, vì từ trong sâu xa họ chỉ là một.

Lần lưng còn một hạt đào
Quyết đem hạt nọ ương vào vườn kia.
Nguyện sau cây lớn xum xuê
Bên đường cho khách đi về nghỉ ngơi.
Nguyện xin trái thẫm hoa tươi
Lợi riêng nhưng để người người hưởng chung.

Bốn câu trên là thơ, hai câu dưới là kệ. Nhờ liên kết trong không gian mà chúng ta có thế giới, nhờ liên kết trong thời gian mà chúng ta có lịch sử. Mối quan hệ giữa tính nghệ thuật và tính thông điệp không phải dễ giải quyết. Trước hết bài thơ phải được bạn yêu mến, sau đó nó mới có thể làm bạn thay đổi. Thơ lục bát là loại thơ có hệ toạ độ, người đọc có thể đóng vai người viết và ngược lại: không có sự khác biệt lắm giữa sáng tạo và thưởng thức. Trong nghi lễ và phong tục, con người trở lại với nhạc điệu, vì vậy mà có hai chữ thơ ca, làm sống lại tình yêu đối với cuộc sống. Thơ Phạm Thiên Thư, cũng như nhiều nhà thơ ở miền Nam thời ấy, sử dụng nhiều thơ có vần. Thực ra, về hình thức, như thế là cũ. Chim chóc, suối, hoa, rừng, cũng là những hình ảnh không có gì mới, nhiều thi nhân đã nói, nhưng đến Phạm Thiên Thư chúng trở thành thiêng liêng.

Lớn lên giữa núi xanh rì
Cỏ hoa như thể tứ chi cận kề

Chữ tứ chi cũng là thần tình. Ẩn dụ là liên kết hình ảnh có tính linh cảm giữa hai sự vật, là hoạt động vô thức, bạn không biết tại sao, có những mạch ngầm bên dưới không hiểu được, những mạch ngầm ấy được chia sẻ bởi nhiều người. Phép ẩn dụ vừa cần mới lạ, gây ngạc nhiên, nhưng cũng phải chừng mực, dễ hiểu. Không những “động hoa vàng” là câu chuyện về “gã” bỏ quan trường về, mà còn là hình ảnh của con người bơ vơ đi tìm nguồn cội. Ẩn dụ của Phạm Thiên Thư lớn, đẹp, hòa hợp với tâm thức người Việt, trong một xã hội loạn lạc.

Ngày xưa áo nhuộm hoàng hôn
Dáng ai cắp rổ lên cồn hái dâu
Tiếng nàng hát vọng đôi câu
Dừng tay viết mướn lòng sầu vẩn vơ
Lều tranh còn ủ chăn mơ
Mối tình là một bài thơ vô đề
Ẩn Lan ơi! Mái tóc thề
Gió Xuân nay có vỗ về suối hương
Đêm nao ngồi học bên tường
Nến leo lét lụi, chữ vương vắt chìm
(Đoạn Trường Vô Thanh)

Thơ tình không tạo ra niềm hy vọng giả dối nào: chúng đều buồn. Vì hầu hết tình yêu sẽ thất bại. Con người chấp nhận thất bại trước số phận nhưng không bỏ cuộc, mà suốt đời săn đuổi ý nghĩa của tồn tại, ý nghĩa của tình yêu, của đau khổ. Một chủ đề thường xuyên của Phạm Thiên Thư là mối quan hệ giữa tình yêu và cái chết, cuộc sống và sự lụi tàn. Xoay quanh chủ đề ấy, phong cách nghệ thuật của ông ngày càng rõ nét.

Hè sang phượng nở
Rồi chẳng gặp nhau
Ôi mối tình đầu
Như đi trên cát
Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng nhòa mau
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ
Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng ráng đỏ
Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu?

Bài thơ nói về sự vô vọng, sự trống rỗng, cuộc trò chuyện giả tưởng giữa hai người. Thực ra chưa phải là tình yêu mà là ước muốn, theo đuổi, tìm kiếm, chia ly, sự im vắng của kỷ niệm được ngôn ngữ bắt giữ, trở thành một thế giới không thể hiểu được, trở thành lời thì thầm độc thoại. Đôi khi bài thơ tựa như cách diễn tả những cảm xúc khác nhau, thăm dò những tình huống trái ngược, nhờ vậy tạo ra đáp ứng ở người đọc. Chủ nghĩa lãng mạn vẫn còn là khuynh hướng lớn của thơ miền Nam thời kỳ Phạm Thiên Thư, bên cạnh khuynh hướng hiện thực và khuynh hướng hiện sinh. Trong khi ở ngoài Bắc cùng thời nó đã bị thay thế bởi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, thì trong Nam sau một thời gian lùi bước, có sự quay trở lại của phong cách lãng mạn, mà Phạm Thiên Thư là tiêu biểu. Nhưng đó là một chủ nghĩa lãng mạn mới, hiện đại hơn; và tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư cũng pha màu siêu thực, là những thử nghiệm: tình yêu tuổi học trò ở một người đã qua giai đoạn ấy, tình yêu trần tục ở một thiền sư, tình yêu của cổ nhân trong con người hiện đại. Đó là tình trạng hưng cảm kèm với lo âu, lo âu về bản thân mình và về đối tượng hướng tới, bề ngoài gần gũi với thiền, mà bên trong là sự lo lắng. Thực ra:

anh trao vội vàng
chùm hoa mới nở
là những câu phi thời gian. Không còn cũ hay mới. Cũng như:
nhưng mỗi năm mỗi vắng
người thuê viết nay đâu
(Vũ Đình Liên)

Nhiều nhà thơ đương đại tránh xa xúc cảm. Kể ra cũng phải, thế giới ngày nay đòi hỏi một cách biểu hiện khác cho những tình cảm mới, giữa những người sống không quá khứ, không lý tưởng, quay đảo trong cơn lốc của chủ nghĩa tiêu thụ, ngày càng xa nguồn cội. Trong hoàn cảnh ấy, Phạm Thiên Thư là người đại diện cuối cùng của một không khí tiền chiến kéo dài. Kỳ lạ thay, ngay trong chiến tranh, cận kề cái chết, con người có thể sống đẹp như huyễn mộng. Có một cố gắng phối hợp giữa các ý tưởng luân lý hay triết học và sự giản dị có tính thơ ca, nhưng không phải khi nào Phạm Thiên Thư cũng thành công và đạt đến sự hài hòa.

Con ơi con ngủ cho lành
Chắt chiu nguyện ước gửi vành trăng non
Mẹ nghèo còn tấm lòng son
Giờ gieo câu đố, con tròn mộng sau
Thẳng gì hơn những thân cau
Mềm gì hơn những dây trầu leo quanh
(2009)
Tuy vậy, mười bài Đạo ca của ông là một thành tựu xuất sắc, được Phạm Duy phổ nhạc, và nghe nói Thái Thanh thích hát nhất.

Xưa em là kiếp chim
Chết mục trên đường nhỏ
Anh làm cội băng mai
Để tang em, chờ mấy thuở
Xưa em là chữ biếc
Nằm giữa lòng cuốn kinh
Anh là thiền sư buồn
Ngồi tụng dưới ánh trăng

Tình cảm tác giả chất phác, mà ngôn ngữ thì không.
Cái chết không chỉ là sự chấm dứt đời sống mà còn là khởi đầu của một loại thời gian khác. Chúng ta đến đó, gần bờ vực, biết rằng bên kia mọi việc đã thay đổi, có người than khóc, có người kể chuyện, hát những bài hát. Bài Em đi lễ chùa của Phạm Thiên Thư là một trong những bài thơ đặc sắc nói về cái chết. Hình như người kể là một tu sĩ trẻ, và nhân vật nữ là có thật. Nó nhắc tôi nhớ đến bài của Huyền Kiêu:

Hạ đỏ có chàng tới hỏi
Em thơ chị đẹp em đâu
Chị tôi hoa trắng cài đầu
Đi bắt bướm vàng ngoài nội

Tất cả sức nặng của tình yêu, chiều sâu của cái đẹp, sự tiếc nuối, lòng thương xót, quyện vào nhau. Bài thơ là lời ai điếu cho người ra đi, nhưng cũng là tiếng cầu kinh, giúp một linh hồn sớm về cõi khác. Về đâu?

Sao ta biền biệt chưa về
Lưng đồi sim tím bốn bề chim ca

Joseph Huỳnh Văn viết trong tập Động Hoa Vàng: “tìm về cái muôn thuở- muôn nơi cũng có nghĩa là không về đâu cả, nên trong thơ, người thi sĩ biết rõ điều nghịch lý đó, hiểu rằng chỉ còn có cách về, chỉ còn có những lời đẹp cho giấc mộng không bến bờ. Những chữ tìm tới giấc mộng không bến bờ không ràng buộc thường có vẻ đẹp hững hờ đạm bạc.” Thơ Phạm Thiên Thư thực ra có nhiều chữ và cách nói cũ, sáo, chứa một thứ triết lý đạo Phật bình dân; mà ông cũng không cố tỏ ra là bậc chân tu biết nhiều hiểu rộng. Sự việc một thiền sư làm thơ tình và thơ hay đã gây dư luận sôi nổi một thời. Sau Phạm Thiên Thư, hiện tượng ấy không lặp lại. Thơ ông là một thứ thơ thiền nổi loạn. Câu mở đầu của tập Động Hoa Vàng trong đoạn đánh số một:
Mười con nhạn trắng về tha
Như lai thường tụ trên tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm

Thơ thiền mà tình tứ, không những tình tứ mà nhục thể, gợi tình, táo bạo. Độc giả lúc nào cũng thích ăn trái cấm. Nguyễn Du từng dạy: tu là cội phúc, tình là dây oan, nhưng vị thiền sư này làm ngược lại, ông kết hợp hai thứ. Ông nổi tiếng một phần vì vậy. Nhưng ta cần nhớ rằng những tài năng thực sự cao hơn dư luận. Trong khi tác giả nói về tình yêu thì cũng nói về tính nguyên thủy của tạo vật.

Đoạn trường
Sổ gói tên hoa
Xưa là giọt lệ nay là hạt châu

Đây là Đoạn Trường Vô Thanh, ra đời năm 1972, được tặng giải thưởng văn chương toàn quốc 1973. Tác giả viết tiếp Đoạn Trường Tân Thanh, như một tri âm của Nguyễn Du đến sau mấy trăm năm. Mê Kiều đến thế là cùng. Năm 1992, Phạm Thiên Thư viết: “Một đêm nằm mơ, ở đất Tân Bình – gặp Người Đẹp tặng tấm gương soi và cây bút. Tỉnh dậy, mới biết ấp trang Vô Thanh trên ngực mà ngủ quên – Tự nghĩ mặt mày mỗi ngày còn phải rửa lại, huống chi là hư truyện đã viết cách nay trên hai mươi năm – đọc lại lắm chỗ chẳng được như lòng …. Nên đêm nay, khêu đèn dầu hao, tựa mảnh trăng tròn hơn ngoài cửa, mượn Người Đẹp ngọn ý bút, nhuận sắc lại Vô Thanh, cốt để tự soi mình vậy – Nay thêm đôi dòng tạ tội. 21-4-1992.”
Non Hồng núi Tản chim ca
Sông Hà sông Cửu la đà dòng xuôi
Núi sông chiếu diện tinh khôi
Ngọc lên mặt biển, vàng trôi mạch rừng
Mừng Người Trời Đất tưng bừng
Ruộng Lam trâu kéo một vừng long lanh

Những câu thơ cuối nhắc lại niềm mơ ước của thi sĩ: đất nước hòa bình, xã hội thanh bình, thiên hạ thái bình. Phạm Thiên Thư viết rất nhiều thơ trong một giai đoạn ngắn, những năm bảy mươi, điều này làm người đọc khó theo dõi. Tôi liệt kê lại cho những bạn quan tâm:
– Động Hoa Vàng (1970)
– Hội Hoa Đàm (1971)
– Đạo Ca (1972)
– Đoạn Trường Vô Thanh (1972)
– Suối Nguồn Vi Diệu – Kinh thơ (1973)
– Ngày Xưa Người Tình (1974), trong đó có các bài “Ngày Xưa Hoàng Thị” và “Em Lễ Chùa Này.”
– Trại Hoa Đỉnh Đồi (1975)
– Những Lời Thược Dược (2007)
– Hát Ru Việt Sử Thi (2009)

Sau năm 1975 ông ít xuất hiện, thế hệ sau chỉ biết đến ông qua vài ca khúc được Phạm Duy phổ nhạc; nhạc ấy cũng bị cấm phổ biến nhiều năm. Đối với nhiều người khác, thơ ông quá cảm xúc, trong khi thời đại ngày trở nên khách quan, hài hước. Thế giới của ông là một thế giới đẫm vị thiền, phảng phất tình yêu thơ mộng, sầu muộn nhưng không thảm khốc. Tôi nhớ tập thơ Động hoa vàng khổ nhỏ màu vàng trong sáng, do một người bạn gái tặng, có in lời của Thích Minh Châu và bìa sau vẽ minh họa thiền sư Phạm Thiên Thư thật đẹp.
Thời thế thay đổi, chàng thi sĩ của Hoàng thị cởi áo cà sa hoàn tục; người yêu thơ không mấy khi thấy ông nữa. Điều đó chứng tỏ thơ Phạm Thiên Thư cũng như nhạc Phạm Duy là sản phẩm của một hoàn cảnh xã hội, một thứ kỳ hoa dị thảo chỉ nở trong một giai đoạn khi những giấc mơ được phép sống lại, các thế giới được phép giao thoa. Thực ra Phạm Thiên Thư cũng có cố gắng viết theo yêu cầu mới, sau 75, nhưng không được chú ý mấy. Tôi thấy tiêu biểu là mấy bài như sau đây.

Trong lòng đất thâm sâu
Thốt một nhành thược dược
Đóa hoa như giọt nước
Lóng lánh hồn thiên thâu
Từng cánh hồng đan nhau
Xòe những lời bất tận
Lòng đất già lận đận
Ướp thơm những chùm hoa
Hoa nhiệm mầu trong ta
Đất nhiệm mầu trong nụ
Cây dương cầm vũ trụ
Đất góp khúc tình ca
Thược dược hồng môi hát
Gió tơ trời bay đi
Cây đàn tình xanh ngát
Mười ngón đời vân vi
Ai biết đất nói chi
Trong những lời thược dược
Đóa hoa như giọt nước
Lóng lánh hồn thiên thâu
Trên môi nàng ca sĩ
Những cánh tình bay mau
(“Những lời thược dược,” 19-12-1988)
Mai em ra trường
Đi xa dạy học
Hứa dạy trẻ đọc
Trang sử đấu tranh
Của dân tộc mình
Miệng cô xinh xinh
Giảng về cách mạng
Và trên vầng trán
Ngời ánh quang vinh

Em đem bình minh
Về từng mắt trẻ
Anh tưởng tượng thôi
Đã rưng nghẹn lệ
Yêu em vô kể
Cô giáo ngày mai
Con đường tương lai
(“Ngày mai”) (1)

Thơ như thế thì cũng chưa phải là cách mạng lắm. Có lẽ Phạm Thiên Thư giống những trí thức miền Nam trước, ngây thơ, thánh thiện, cũ. Không khí lãng mạn đã chết, thiết chế xã hội nâng đỡ nó không còn, một vài nhà văn vẫn viết nhưng Phạm Thiên Thư gần như đã xong, dù có xuất bản vài tuyển tập khác, và có lần xuất hiện bên cạnh Phạm Duy, trong một chương trình sân khấu rực rỡ.

Vậy, thơ giúp người ta sống cuộc đời mình như thế nào?

Một đêm nằm ngủ trong mây
Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời

Bài thơ tựa như người được đánh thức, giây phút bừng sáng chiếu rọi khắp trang giấy. Bất chấp những ý niệm cũ, những chữ đã được dùng nhiều lần, trở nên mòn sáo, sự quyến rũ của Phạm Thiên Thư vẫn còn đó. Ông nhiều lần nhắc đến hình ảnh từ quan:

này mộng ảo trả về mộng ảo
khăn gói lên, treo ấn từ quan

Một bài thơ hay làm ta thao thức, trở đi trở lại, tự hỏi, đặt ta vào dòng chảy của đời sống. Thơ giải phóng con người khỏi thế giới đầy tin tức, những ứng dụng hữu ích, ở đó con người đầu hàng các phương tiện, trở thành một phần của các phưong tiện ấy. Thơ đi ra từ nhịp điệu vũ trụ, bốn mùa, nhịp điệu cơ thể. Thơ làm cho những kinh nghiệm riêng tư chốc lát trở nên có thể hiểu được và tái lập được. Tái lập là điều quan trọng trong các thí nghiệm khoa học và cũng quan trọng không kém đối với nghệ thuật. Một bài thơ hay mang lại cảm giác tương tự, dù bạn đọc ở đâu, lúc nào. Thơ mang chúng ta vượt qua ranh giới giữa hữu thức và vô thức, giữa quá khứ và hiện tại, giữa người nói và người nghe.

Đầu mùa Xuân cùng em đi lễ
Lễ chùa này – vườn nắng tung bay
Và ngàn lau – vàng màu khép nép
Bãi sông bay – một con bướm đẹp

Cái chết là ngưỡng cửa, không những cho người chết mà còn cho người sống. Người sống mới là nạn nhân của cái chết. Kẻ thương tiếc nhận ra cái bóng của sự chết, như nhìn thấy vực thẳm, chia lìa, đoán trước được nó, và sự tiên đoán ấy làm họ lo âu, khốn khổ.

Trời cuối thu rồi em ở đâu
Nằm trong đất lạnh chắc em sầu
(Đinh Hùng)

Thơ Phạm Thiên Thư khác thế, cũng dẫn người đọc đi qua mất mát, đi qua cái chết ấy, nhưng hồi tưởng mà không sợ hãi. Đó là thơ của sự đau buồn sâu xa nhưng dịu dàng, sự kháng cự số phận theo kiểu khác. Nhà thơ mang lại hình ảnh luân chuyển của sự sống và cái chết, của hạnh phúc và đứt gãy, như nhịp tuần hoàn vũ trụ. Sự lặp lại của các chữ trong thơ khi nói về cái chết chính là sự lặp lại của mùa.

Tàn mùa Đông vào chùa bỡ ngỡ
Tiễn đưa em trong áo quan này
Từng cội hoa – trầm lặng thương nhớ
Tóc em xưa – tơ óng như mây

Bài thơ của Phạm Thiên Thư có đủ bốn mùa xuân hạ thu đông.
Cho đến khi nào chúng ta chấp nhận nó, cái chết, chấp nhận thua cuộc, chúng ta chịu lìa bỏ hạnh phúc tạm bợ trần gian, lúc ấy mới có thể có thức tỉnh. Tuy là một thiền sư, Phạm Thiên Thư không nhắc nhiều đến các lý thuyết Phật giáo, và về mặt này, ông hồn nhiên. Nếu có ý thức làm một tu sĩ, ông sẽ có những câu thơ nặng rao giảng, khuyên nhủ, cũng như trường hợp các thiền sư khác, như thơ Nhất Hạnh. Nhưng thơ không phải là tiếng nói của triết học. Khác với một số nhà thơ đi trước, ông không đẩy tình cảm của mình, yêu ghét, hạnh phúc, đau khổ, lên đến cực điểm. Không có những câu ca ngợi diễm ảo:

Anh nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh
(Nguyên Sa)

Thơ tình Phạm Thiên Thư cũng không nặng về nhục thể như Bích Khê, không thần bí như Đinh Hùng, không đau đớn như Du Tử Lê, không bất cần như Nguyễn Tất Nhiên. Đó là sự cân bằng giữa thực và ảo, giữa hiện thực và siêu thực, một thứ chủ nghĩa lãng mạn hiện đại. Trong một vài năm ngắn ngủi, Phạm Thiên Thư trung thành với câu chuyện tình yêu của mình. Nhưng có khi ông càng viết, người đẹp của ông càng trở nên một thánh nữ:
Khép mắt ta nhìn em
Thấy hình hài diễm lệ
Đứng trên ngàn sóng bể
Trấn át ngàn phong ba

Hình ảnh ấy không thuyết phục. Tôi e rằng nàng thơ (Muse) của các thi nhân không thích cái gì quá siêu phàm, mà chỉ thích bay la đà mặt đất? Bốn chủ đề: tình yêu, đạo pháp, cái chết và thời gian, thiên nhiên và giấc mơ thái bình. Ngôn ngữ Việt trong thơ ông trở lại với sự trong sáng của thơ có vần, đôi khi như lời hát ru, đôi khi mạch lạc như sự thức tỉnh. Một thứ chủ nghĩa sinh thái nguyên sơ, gần với tôn giáo nguyên thủy.

nền chợ xưa giờ họp lách lau
hỏi cô hàng xén giạt về đâu
đêm đêm bầy đóm xanh từng chiếc
tụ giữa nền hoang nhóm lửa sầu
(“Đom đóm”)

Tình yêu dưới mái hiên chùa là sự táo bạo vừa phải, cũng thách thức xã hội nhưng được dư luận chấp nhận, vì hình như đó chỉ là tình hư ảo. Việc dùng nhiều điển tích hoặc giai thoại cũng là một đặc điểm thú vị.

Ván cờ bày trắng bông đào
Sao lên núi thẳm trăng vào chén không.

Thiên nhiên có mặt thường trực. Dù viết về đề tài gì, thơ ông cũng được đặt vào phong cảnh, cây cối, chim chóc, đất trời, bằng một ngôn ngữ có phần tượng trưng. Không thấy rõ trong thơ các ý thức về xã hội chính trị, thậm chí chiến tranh cũng chỉ hiện ra thấp thoáng. Thế nhưng niềm mơ ước đối với hòa bình ở ông thật lớn. Có ba khái niệm khác nhau: hòa bình là để phân biệt với chiến tranh, không có chiến tranh tức là hòa bình, không có hòa bình tức là chiến tranh. Thanh bình tất nhiên phải có hòa bình nhưng là một tình trạng tốt đẹp hơn, không có xáo trộn, chính sự phiền hà. Nhưng thái bình mới là tình trạng lý tưởng, ngày xưa được hiểu như thời thịnh trị, chính quyền liêm chính, trí thức trong sạch, người dân sống tự do, vui vẻ, lành mạnh. Thơ ông là niềm ao ước về một xã hội thái bình như vậy, lời kêu gọi trở về nguồn cội, đi tìm cái vĩnh viễn trong sự chuyển dời, là lời cầu nguyện dành cho quê hương. Đó là một trong vài chủ đề lớn nhất của Phạm Thiên Thư. Kết thúc trường thi Động Hoa Vàng, tác giả nói lại giấc mơ của mình lần nữa, về non nước cũ.

Mai sau trời đất thái bình
Về lưng núi phượng một mình cuồng ca
Gây dàn thiên lý vàng hoa
Lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây

Phạm Thiên Thư là một trường hợp đặc biệt, về xuất thân và thi pháp. Thơ ông giàu nhạc tính, di chuyển giữa những trầm tư, giấc mộng, độc thoại và đối thoại, ngôn ngữ thơ ấy giản dị nhưng không chất phác, vần điệu cũ nhưng phối hợp chữ rất mới, và ý tứ thoáng đãng, tác động đến người đọc trong mênh mông các liên kết văn hóa. Người đọc về sau còn nhớ đến thơ ông vì đó là suối nguồn trong lành tắm mát cái tôi của họ. Cái tôi trong chủ nghĩa lãng mạn tiền chiến là cái tôi cô độc lẻ loi, với trục tọa độ một chiều, thời gian qua đi không trở lại. Lòng yêu đời là sự khao khát vội vã, tiếc nuối vì thời gian vụt mất, chóng mặt:

Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi
(Xuân Diệu)

Cái tôi trong chủ nghĩa lãng mạn mới như trường hợp Phạm Thiên Thư là cái tôi trở lại với thời gian như những chu kỳ, có sinh có diệt, có được có mất, trong lẽ tuần hoàn. Thấy được như thế nên thi nhân tiếc nuối mà không đau đớn, yêu đương mà không vội vã. Đối với cái chết, cái mất mát, những bi kịch con người, câu trả lời của đạo, của thơ là trở về với uyên nguyên. Nhà thơ có lần tâm sự : “Trước khi viết, tôi ăn chay, nhập thiền, cầu nguyện và viết. Tôi không nghĩ đó là thứ ngôn ngữ của mình mà cảm giác có một phép mê dụ, ảnh tượng vô hình nào đó dụ dẫn. Khi tĩnh tâm đọc lại từng trang thơ, tôi không nghĩ là mình có thể viết được như vậy”. Nhờ những điều kiện xã hội thời ấy, đầu những năm bảy mươi thế kỷ trước ở miền Nam, Phạm Thiên Thư đã viết được một loại thơ phi chính trị, phi lịch sử, “như có một phép mê dụ”. Cõi thơ bát ngát của ông đặt trong bối cảnh loạn lạc ấy vốn đã là một thứ gì siêu thực.

Tường thành cũ phiến bia xưa
Hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay
Chiều xanh vòng ngọc trao tay
Tặng nhau khăn lụa cuối ngày ráng pha

Nhà thơ tìm ra tiếng nói của mình trong tự do, tìm thấy căn nhà của mình trong chính ngôn ngữ thơ ca mà ông sáng tạo. Mất ngôn ngữ ấy, mất căn nhà ấy, ông không còn là ông nữa.
Ông chuyển qua làm nghề hốt thuốc chữa bệnh.

Ngày xưa có tục con cầu
Khẩn xin Trời Phật cho đầu thai nhi
Lòng thành như ngọc lưu ly
Làm lành lánh dữ suốt kỳ mang thai

Phạm Thiên Thư chưa bao giờ tỏ ra có ý định làm mới nghệ thuật. Mặc dù trong một cuộc phỏng vấn đâu đó, thi sĩ ngụ ý rằng ông vào chùa là để trốn quân dịch, và quả thật sau 75 cũng đã hoàn tục, nhưng thơ ông thấm đẫm sâu sắc vị đạo, hương thiền. Dòng thơ ấy mở rộng cánh cửa cho mọi người bằng ngôn ngữ nhiều giao tiếp, chính xác, đẹp. Người đọc không cần phân vân suy nghĩ. Đó là loại thơ giả tưởng rằng người đọc và kẻ sáng tạo cùng trong một truyền thống văn hóa. Cũng do đó sức hấp dẫn do tác động liên văn bản là sâu xa. Nhân vật và tác giả đổi chỗ cho nhau. Đừng quên rằng thơ viết trong thời kỳ lửa đạn, vì vậy còn cảm giác thanh bình tạm bợ, giữa sự đứt gãy của chủ nghĩa hiện đại, sự phân rã xã hội, vết thương tình tự dân tộc. Còn lâu Phạm Thiên Thư mới tới gần chủ nghĩa hậu hiện đại, nhưng hoàn cảnh của một xã hội dịch chuyển mang lại cho thơ ông tính chất vô trung tâm, tính rời rạc, không cố định, gần như vô mục đích.

Thơ hôm nay đã đi xa hơn thời của Phạm Thiên Thư, tất nhiên, vì thời đại thay đổi, đa dạng hơn, mặc dù thế người đọc sẽ còn nhớ đến ông, nghe nhạc phổ thơ, đọc lại, vì họ tìm thấy ở đó dấu vết của một đời sống khác, ngôi nhà của một tâm thái khác, không phải chỉ nhớ tiếc mà còn là tham chiếu cho những giá trị hiện tại. Chúng ta chứng kiến sự trở lại trong thơ Việt ngày càng rõ cái tôi trữ tình sau một thời kỳ dài vắng mặt trước các hồi ký, tiểu thuyết, trường ca, thơ phản ảnh hiện thực nông cạn, lời kêu gọi; cái tôi này sẽ làm nên giọng điệu chính của thơ hôm nay, và không phải là không có một mối liên hệ ngấm ngầm nhưng sâu sắc giữa nó và thơ thời kỳ những năm sáu mươi bảy mươi ở miền Nam. Sau mỗi khúc quanh, thơ hình thành một dòng chảy mới, mang theo nó những yếu tố nhận được từ gia tài quá khứ. Việc nhớ lại Phạm Thiên Thư chỉ bằng một vài ca khúc là điều đáng tiếc, người đọc thơ cần đọc ông nhiều hơn, một trong những nhà thơ quan trọng của nền văn học chiến tranh mà ở ngoài chiến tranh. Thơ Phạm Thiên Thư không mới lắm, mà có lẽ ông cũng không có ý định làm mới, nhưng trước ông và sau ông, chẳng ai viết thế. So với nhiều nhà thơ cùng thời, những thành tựu của ông khó nắm bắt hơn, khi miền Nam phải đối diện với những vấn đề lớn như chiến tranh, hỗn loạn. Đó là tiếng hót của loài chim quý, tiếng hót ngắn ngủi, cuối cùng, ngân lên trong những ngày cuối, vì vậy mà buồn đau, ngọt ngào, thương xót. Cùng thời với Phạm Thiên Thư là Du Tử Lê; cả hai đều viết thơ tình. Cần nhớ rằng trong suốt một thời gian dài thơ miền Nam chính yếu không phải là thơ tình, mà là thơ về thân phận, quê hương, chiến tranh. Sau những năm thanh bình đầu tiên thời Đệ nhất Cộng hòa, của “Mùa thu Paris,” “Áo lụa Hà đông,” thơ chỉ còn là dằn vặt khôn nguôi về số phận, đất nước, nội chiến. Không phải tình cờ mà ông và Du Tử Lê cùng được trao giải thưởng văn chương toàn quốc VNCH năm 1973, về bộ môn thơ (chính xác là Du Tử Lê về thơ, Phạm Thiên Thư về trường thi). Nếu tôi không lầm, đây là giải thưởng toàn quốc cuối cùng. Như điềm báo hiệu:

Cuối xuân ta lại tìm qua
Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn
Sớm thu ta đánh đò sang
Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa

Thân xác của người nữ hay của giấc mơ tự do?

Thơ Phạm Thiên Thư còn là lời tri ân đối với đời sống. Nhớ lại tức là sống, quên đi tức là kết thúc. Khi một người chết đi, không được ai nhớ lại, đó là biến mất vĩnh viễn. Khi một người chết đi, được người khác nhắc lại, đó là lúc người ấy trở về. Không cách nhớ nào đẹp bằng cách nhớ của thơ ca. Vì ký ức ấy là ký ức bền vững, chưng cất, thăng hoa. Chúng ta nhớ lại một người tình, một quãng đời, một xã hội, một bài thơ, hầu hết là vì ân huệ mà người ấy, quãng đời ấy, nguồn thơ ấy, bầu khí quyển ấy, trong đó ta hít thở như khí trời, đã từng ban tặng cho ta.

Nguyễn Đức Tùng

______________________________________
Nguồn tham khảo:
(1) Toàn bài “Ngày Mai Phạm Thiên Thư, Ngày Xưa Người Tình,” NXB Văn nghệ, 2006.
(2)
Tiểu sử:
“Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh ngày 1-1-1940 xuất thân trong một gia đình Đông y. Quê cha: xã Đình Phùng, Kiến Xương, Thái Bình. Quê mẹ: xã Trung Mẫu, Từ Sơn, Bắc Ninh. Sinh quán: Lạc Viên, Hải Phòng. Trú quán: Trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương (1943-1951), Sài Gòn – Tp.Hồ Chí Minh (1954 đến nay).
Từ 1964-1973: Tu sĩ Phật giáo, làm thơ. Năm 1973, đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu Kiều – Đoạn trường vô thanh. Năm 1973-2000: Nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn Dưỡng sinh Điển công Phathata (viết tắt chữ Pháp-Thân-Tâm).
Tác phẩm đã in: Thơ Phạm Thiên Thư (1968); Kinh Ngọc (thi hoá Kinh Kim Cương); Động Hoa Vàng (thơ, 1971); Đạo ca (Nhạc Phạm Duy); Hậu Kiều – Đoạn Trường Vô Thanh (1972); Kinh Thơ …
(3) Đặng Tiến, “Ngày xuân tìm động hoa vàng”
(4) Vĩnh Hảo, “Đọc thơ Phạm Thiên Thư”

Tags: None

Nhà Thơ Phạm Thiên Thư _Hương Lệ Oanh VA

 




Nhà Thơ Phạm Thiên Thư (1940-2026)
Từ trần vào lúc 16g15 phút ngày 7- 5-2026 tại nhà riêng VN
Hình ảnh những cuộc gặp gỡ năm 2016 cùng 3 người bạn Julie Le - Ngân Triều - Việt Yến Lê
Ông tặng tôi 3 tập thơ do ông sáng tác

Được biết đến ông, qua những ca khúc Phạm Duy phổ nhạc như:


Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng 
Em Lễ Chùa Này 
Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu 
Pháp Thân 
Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ


Nhưng phổ biến nhất trong một giai đoạn, vẫn là Ngày xưa Hoàng Thị được Phạm Duy phổ nhạc những giai điệu da diết và bất tử.

Xưa tan trường về
Anh theo Ngọ về
Xưa tan trường về
Anh theo Ngọ về
Đôi chân mịt mù
Theo nhau bụi đỏ đường mưa.

Thi sĩ Phật giáo Phạm Thiên Thư cũng để lại những tác phẩm độc đáo thi hóa kinh Phật, chẳng hạn như bộ Kinh Hiền Ngu (Damamuka Nidana Sutra), với 12.000 câu thơ lục bát, có một không hai trong thi ca Việt Nam. Danh mục thi hóa kinh của ông còn có như Kinh Ngọc (Kinh Kim Cương), Kinh Thơ (Kinh Pháp Cú)...

Ca ngợi nội dung và ngôn từ trong Kinh Hiền Ngu, Hòa thượng Thích Giác Toàn có viết "Qua những vần thơ hay tác giả đã khéo léo đưa tư tưởng Phật giáo vào tác phẩm của mình: Khổ, không, vô ngã… Tôi nghĩ đây là tác phẩm về Đạo và đời xoa dịu những nổi khổ đau để khuyến khích người ta đi tiếp đường đời với tâm tự tại trong chữ Không…!

Năm 1964 xuất gia pháp danh là Tuệ Không, (1964-1973) hoàn tục nên có kiến thức khá thâm thúy về đạo Phật. Ông được coi là "người thi hóa kinh Phật" (dịch kinh Phật ra thơ) và là tác giả của nhiều bài thơ phảng phất triết lý mà ông đã tin theo.

- Năm 1973, ông đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu truyện Kiều-Đoạn trường Vô Thanh

- Năm 1973-2000: Nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn dưỡng sinh Điện công Phathata (viết tắt chữ Pháp-Thân–Tâm)..

Theo ông, Hoàng Thị Ngọ trong bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị” chỉ là kỷ niệm, một mối tình thoảng nhẹ vu vơ thời học trò! Trong những năm Tú tài ông đã để ý một cô bạn học cùng lớp tên là Hoàng Thị Ngọ cô gái đó quê gốc Hải Dương và ở gần nhà ông. Sau này Phạm Thiên Thư tìm lại cố nhân nhưng người hàng xóm cho biết bà Ngọ đã bán nhà và dọn đi nơi khác từ lâu.

Ngày ấy, mỗi khi xếp hàng vào lớp, cô gái đứng ở đầu hàng bên nữ, nổi bật, mái tóc dài xoã trên bờ vai lặng lẽ ngắm nhìn. Khi tan trường cô gái một mình trên đường về ông lẽo đẽo theo sau: “Cô ấy ôm cặp đi trước tôi đi theo nhưng không dám lên tiếng. Trong bóng chiều tà, ánh nắng hắt qua hàng cây, cô ấy lặng lẽ bước, gây cho tôi những cảm xúc bâng khuâng! Cứ thế tôi lặng lẽ theo sau hàng ngày giấu kín những cảm xúc của mình không cho bất cứ ai biết”. Và một lần đắm chìm trong cảm xúc ấy, ông đã cầm bút viết lên bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị”.

Những năm sau này, mỗi khi đi ngang lại con đường của một thuở yêu đương, hình ảnh cô gái với mái tóc xoã ngang vai lại hiện về trong ông:

“Em tan trường về.
Đường mưa nho nhỏ.
Chim non giấu mỏ.
Dưới cội hoa vàng..”

Giờ đây, Hoàng Thị Ngọ đã định cư ở Mỹ. Hơn 50 năm, nơi phương trời xa xôi ấy, cô nữ sinh có còn nhớ…
“…Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ
Dáng em nho nhỏ
Trong cõi xa vời
Tình ơi ! Tình ơi !”

Nhà thơ Phạm Thiên Thư, người đã thi hóa Kinh Phật, ông xuất hiện trong làng thơ như một người tu sĩ, giảng Phật Pháp bằng thi ca như Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ,


Hương Lệ Oanh VA

08 tháng 5, 2026

Áo Trắng Ngày Xưa_Nguyễn Cang

 




Nghe gió thoảng tiếng học trò tan học
Một hồi chuông từng tốp bước chân mau
Mặt vui tươi hớn hở vẫy tay chào
Như có tiếng ve sầu kêu thê thiết

Khung cửa lớp tiễn người đi biền biệt
Nhớ một thời cắp sách ở quê hương
Bạn thân yêu rảo bước ở cuối đường
Vui biết mấy những ngày xưa thân ái

Mái trường cũ rêu phong màu cỏ dại
Áo` trắng thơ ngây tóc xỏa bờ vai
Ngẫn ngơ lòng, nghiêng ngả những chàng trai
Chiều cuối hạ tiếng ve sầu tha thiết

Từng cánh phượng bay bay chào tiễn biệt
Giờ chia tay còn biết nói năng gì
Thư muốn trao nhưng ái ngại điều chi
Đầu năm tới biết có còn gặp lại

Vết thương lòng giờ vẫn còn tê tái
Trang sách xưa còn kẹp lá thư tay
Áo trắng thơ ngây mực tím chưa phai
Hoàng hôn xuống mưa rơi tràn mi mắt

Ta về đây giữa khung trời tím ngắt
Nghe tâm tư nặng trĩu mối tình quê
Trường còn đây áo trắng lạc cung mê?
Bạn học cũ bây giờ tìm đâu thấy

Có đứa chết trận từ mùa Thu ấy
Có đứa ra khơi chẳng báo tin về
Ta ngồi nghe gió lạnh rớt lê thê
Đời hư ảo cõi thiên thu bất tận

Cuộc dâu bể gặp nhau là số phận
Mắt rưng rưng nhắc lại mái trường xưa
Chiều hanh hao nắng tắt cánh rừng dừa
Xin giã biệt bạn bè xưa thân mến!!!
Nguyễn Cang
May 5, 2026

04 tháng 5, 2026

Thanh Tâm Tuyền, Tỉnh Bình Dương Và Những Ngày Dạy Học _Võ Kỳ Điền

 

1936-2006


Thanh Tâm Tuyền, Tỉnh Bình Dương Và Những Ngày Dạy Học
Võ Kỳ Điền



**Thanh Tâm Tuyền – Người thầy, nhà thơ, và nỗi đau của thời đại** Thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, người khởi xướng thơ tự do, qua đời năm 2006 vì ung thư phổi, để lại dấu ấn sâu đậm trong văn học Việt Nam Cộng Hòa. Dù lối viết kỳ lạ, khó hiểu, ông được giới văn nghệ sĩ ngưỡng mộ vì tài năng và tầm ảnh hưởng. Nhưng với học trò, ông là người thầy tận tụy, truyền cảm hứng cho cả một thế hệ. Những ngày dạy học tại trường Nguyễn Trãi (Bình Dương), ông giảng bài say mê, khiến học trò say mê văn chương. Dù đời ông đầy nghịch lý – từ nhà thơ bị chỉ trích đến người thầy được kính mến – nhưng tình cảm dành cho học trò luôn là điều quý giá nhất. Trong dòng chảy của thời đại, Thanh Tâm Tuyền là hiện tượng kỳ lạ, vừa là người sáng tạo, vừa là người sống giữa những xung đột của lịch sử. 

*******************

Bất ngờ tôi được tin buồn thi sĩ Thanh Tâm Tuyền vừa từ trần lúc 11 giờ 30 sáng ngày 22 tháng 3 năm 2006 vì bị ung thư phổi, tại tiểu bang Minesota, thời gian vừa qua một bạn thân, anh Nguyễn Hữu Chung (Montréal) cũng mất vì chứng bịnh nầy, mặc dù anh không bao giờ hút thuốc và rất kỵ những người hút thuốc ở gần. Hai người mà tôi quí mến, một là thầy, một là bạn cùng mất vì một chứng bịnh, nhưng với thầy Thanh Tâm Tuyền, thì tôi không ngạc nhiên bởi vì thi sĩ có thói quen hút thuốc lá loại nặng và thường xuyên từ lúc còn trẻ, dù vậy vẫn khiến tôi xúc động.

Thanh Tâm Tuyền được coi như là người khởi đầu cho thơ tự do, để lại nhiều dấu ấn trong dòng sinh hoạt văn học miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Thơ lẫn văn của ông lạ kỳ, bí hiểm, khó hiểu, đặc biệt được viết bằng một bút pháp lạ lùng, ngang tàng. Thơ thì không phải thơ (thường), văn thì không phải văn (thường), không được phổ biến rộng rãi, độc giả phải thuộc giới kén chọn. Tập thơ đầu tay Tôi Không Còn Cô Độc của thi sĩ nổi tiếng như vậy mà phải bị nằm ngoài lề đường dầm mưa dãi nắng, để bán với giá rẽ 5 đồng bạc.., mà cũng ít người mua. Thời đó Văn Nghệ Tiền Phong với loạt bài châm biếm, gọi đó là lối thơ hủ nút với hình vẽ thi sĩ với mái tóc hớt cua, trêu chọc...

Một hiện tượng nghịch lý kỳ lạ là với lối viết khó hiểu nhưng đa số văn nghệ sĩ, những người sinh hoạt trong giới văn học nghệ thuật đều công nhận Thanh Tâm Tuyền là người có tài năng thực sự, một bản lãnh thực sự và là một cây bút lãnh đạo hàng đầu của nền Văn Học Việt Nam Cộng Hòa. Ông viết tương đối không nhiều (3 tập thơ và 7 tập truyện) nhưng ảnh hưởng của ông cực kỳ sâu sắc và lâu bền. Theo tác giả Trần Khải của Việt Báo thì chính những dòng chữ của Thanh Tâm Tuyền đã thúc đẩy hay xô tới để văn học Việt Nam thêm một đà phóng tới.... Thanh Tâm Tuyền đã viết những dòng chữ lạ thường giữa một thời đại cũng hết sức lạ thường của dân tộc Việt Nam.

Khi thi sĩ nằm xuống, nhiều nơi ở hải ngoại, những người sinh hoạt trong giới văn học nghệ thuật làm lễ tưởng niệm nhà thơ như là một cảm mến, thương nhớ, cám ơn và từ biệt. Thanh Tâm Tuyền được coi như là nhà thơ, nhà văn, người lính, người tù cải tạo...

Nhưng đối với riêng tôi, mãi mãi, Thanh Tâm Tuyền là một thầy giáo phẩm hạnh được học trò thương yêu và kính mến. Thầy cực kỳ thông minh, nhiều tài năng, kiến thức sâu rộng, tận tụy, tư cách xứng đáng và nhứt là tình cảm thương mến đối với học trò... Tôi xin trích dẫn một đoạn văn tôi đã viết từ lâu (1985) để nhớ tới người Thầy cũ, đồng thời cũng đăng một bức thư của Thầy viết riêng cho tôi (1992), nhắc lại những ngày dạy học ở trường Nguyễn Trãi (Bình Dương) như là một kỷ niệm quí báu, để chúng ta cùng thấy được tấm lòng thương mến học trò của thầy Tuyền.

(trích một đoạn trong lời tựa tập truyện KẺ ĐƯA ĐƯỜNG của Võ Kỳ Điền, viết mùa Giáng Sinh 1985).

... Lúc còn nhỏ bắt đầu lên trung học, tôi vẫn còn phải theo học một trường tư thục nhỏ bé ở tỉnh nhà. Ba má tôi vì thương con nên không muốn cho anh em tụi tôi đi học ở Sài gòn. Tuy Sài Gòn chỉ cách Bình Dương vỏn vẹn có ba mươi cây số. Đến bây giờ, nhiều khi hồi tưởng lại không biết đó là rủi hay may.

Thời đó (1952 -1956...) Bình Dương chưa có trung học công lập. Trường Nguyễn Trãi là trung học tư thục duy nhứt. Ông hiệu trưởng cùng các giáo sư đa số là người địa phương. Như thầy Châu, chủ một sạp bán tạp hoá ở nhà lồng chợ, thầy Hoàng chủ nhà máy xay lúa, thầy Phổ thì làm việc ở tiểu khu chuyên thông dịch cho quân đội Pháp. Giữa năm đệ nhứt niên, trường có mời một giáo sư Sử Địa mới. Cả lớp xôn xao bàn tán vì thầy Ngô Đình Hộ là nhạc sĩ Lê Thương. Rồi vài tháng sau trường có thêm thầy Phạm Duy Nhượng. Tụi học trò lại có dịp điều tra lý lịch. Ông Nhượng là em ruột thạc sĩ Phạm Duy Khiêm và là anh của nhạc sĩ Phạm Duy.

Lúc đó tôi cảm thấy cả cái xứ Việt Nam nầy chỉ có trường tôi là hạng nhứt. Làm sao các trường khác, dầu là các trường lớn ở Sài Gòn có được những vị giáo sư giỏi giắn như vậy. Vào những dịp nghỉ hè hoặc lễ tất niên, nhìn thầy Nhượng, người ốm ốm, cao cao, vóc dáng thanh tú, ôm đàn lục huyền, búng các ngón tay thon dài vào sáu dây thánh thót, tôi nhìn say mê ngây ngất. Tự dưng tôi muốn học đờn để thành nhạc sĩ. Nhưng đến năm sau, rồi năm sau nữa, trường có thêm các giáo sư ngoài Bắc mới di cư vô. Thầy Lê Xuân Khoa hết sức đẹp trai, nói năng thiệt duyên dáng, cả lớp như bị thôi miên. Thầy Ngọc Dũng dạy vẽ, thường mặc áo xăn tay, giọng nói hơi cà lăm.

Nhưng người mà chúng tôi chú ý, bàn tán nhiều nhứt là thầy Dư văn Tâm, có bút hiệu Thanh Tâm Tuyền. Thầy Tuyền người tầm thước, lưng hơi khòm, da đen ngâm ngâm, mặt to vuông, càm bạnh, miệng kín mà rộng, da mặt đầy mụn. Đặc biệt tóc hớt ngắn, thật sát như ở quân trường giống hình móng ngựa. Bàn tay mềm và đẹp với các ngón đều đặn hình mũi viết. Quyển Bếp Lửa rồi tới tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc được lần lượt xuất bản. Vừa tung ra thị trường nó gặp nhiều phản ứng, chống đối kịch liệt. Càng bị đả kích, tên tuổi Thanh Tâm Tuyền càng sáng chói. Thầy giảng bài say mê. Nhiều khi đã hết giờ, thầy vẫn còn nán lại, chưa muốn chấm dứt bài giảng. Nhờ thầy Tuyền mà tôi biết mê cái thế giới văn chương với những nhận xét, độc đáo, kỳ lạ. Nhìn chung thì thầy Tuyền hơi xấu trai. Nhưng điều đó có gì quan trọng. Những lúc thầy giảng bài, cả lớp ở dưới trông lên không nháy mắt. Tôi nhìn bằng cả một cõi lòng say mê, kính phục. Càng ngắm, tôi càng thấy thầy đẹp trai hẳn ra. Cái tóc cũng đẹp, cái miệng thật có duyên, cái lưng khòm khòm, nghệ sĩ hết chỗ nói.

Mà đâu phải chỉ có mình tôi thấy như vậy. Hình như các chị ở trong trường, ai cũng đều ái mộ thầy hết. Người nào cũng kè kè cuốn Tôi Không Còn Cô Độc trong cặp sách. Lúc nầy tôi thôi muốn làm nhạc sĩ mà lại ước ao mai sau vừa được làm thầy giáo, vừa viết văn làm thơ.

Mười năm sau trở về trường cũ, nhìn cái sân lởm chởm đá đỏ, cái vườn có cây cau cây dừa, có con rạch cùng cạn nước, tôi bước vào lớp, đứng trên bục giảng ngày xưa, bùi ngùi nhớ lại giấc mơ thời mới lớn. Tôi, tài hèn sức mọn, chỉ thực hiện được có phân nửa điều mình ước ao. Cố gắng hết sức chỉ làm được tới thầy giáo. Một thầy giáo ở tỉnh nhỏ, tầm thường, an phận, không dám mơ ước điều gì cao xa. Đôi khi nổi hứng làm thử vài bài thơ, viết một hai truyện ngắn. Hôm sau, đọc lại thấy hơi kỳ cục, không dám gởi cho các báo. Đường vào làng văn khó hơn đường vô xứ Thục. Thôi, không thèm nghĩ đến, văn nghiệp chỉ dành riêng cho người có duyên. Mãi như vậy mà tôi lui cui đi dạy học cho tới ngày mất nước.

...

(Thư của thi sĩ Thanh Tâm Tuyền gởi người học trò cũ)

St-Paul 18-1-92.

Anh Võ Kỳ Điền,

Thư và sách anh gửi tặng đã đưa tôi trở lại Thủ Dầu Một, nhắc lại cho tôi những mảnh tình bị bỏ lạc đâu đó bằng cái ký ức bị nhồi nhét chật chội xô bồ. Tôi đã mất cả một ngày mới nhớ ra tên cụ Pháp, người đã xuống tận nhà tôi để đón mời tôi lên dạy vào mỗi cuối tuần (chiều thứ sáu, sáng thứ bảy?), giúp cho tôi có quyết định dứt khoát; bỏ trường công ra dạy trường tư - mặc dầu phải đi xa hơn. Tôi nhớ bấy giờ tôi vừa được gọi cho vào dạy tại trường Nguyễn Trãi (SàiGòn) được nửa tháng và tôi đã trốn không tham dự việc phải hướng dẫn học sinh tham dự cuộc biểu tình trong ngày tuyên bố "Hiến Ước Tạm Thời" của ông Ngô Đình Diệm sau khi đã truất phế ông Bảo Đại (ngày 23 -10 -1955) .

Lúc bấy giờ trường Nguyễn Trãi (Thủ Dầu Một) chưa xây cất thêm, lớp đệ tam có khoảng hơn 10 học sinh đặt trong ngăn phía sau ngôi nhà chính - mái ngói, sàn gạch tàu, vách ván; chỗ ở của ông bà cụ Pháp và 2 cô cháu gái mồ côi (?) - còn hai lớp đệ tứ, đệ ngũ đông hơn chiếm hai phòng lớn trong nếp nhà gạch cất kế sát bên trái nhà chính gồm ba phòng (phòng nhỏ ở đầu dãy dùng làm văn phòng) Giờ nghỉ các giáo sư thường ngồi ở bộ "sa lông" mộc kê ở gian giữa nhà chính trước trang thờ cao rộng trông ra khoảng sân trước nơi học sinh qua lại để đến lớp, hai gian bên kê mấy bộ ngựa rộng mát nơi nghỉ ngơi buổi tối của các giáo sư ở Sài Gòn - Lái Thiêu lên.

Ở đây tôi gặp thầy Nhượng, thầy Lân, thầy Hoanh, thầy Thành, thầy Châu. Bà cụ Pháp nấu cơm cho chúng tôi ăn - tôi và thầy Lân (cùng ở Gia Định với tôi), thầy Hoanh (ở Lái Thiêu, tôi đã một lần vào thăm nhà thầy ờ đấy), thầy Thành (cũng dạy chung với tôi ở Nguyễn Bá Tòng Sài Gòn) - để chúng tôi đỡ mất công ra chợ. Tôi cũng nhớ lại những buổi tối ở lại đấy, cụ Pháp đưa tôi đi dạo chơi quanh phố chợ hoặc ghé chơi nhà thầy Châu, thầy Nhượng, - nhà thầy Nhượng ở trên lầu của một tiệm nước trông sang nhà lồng chợ.

Tôi rất thích con đường bờ sông vắng vẻ với bên một là khu tòa tỉnh cây cối um tùm, một bên là mặt nước trải phẳng, xa xôi và hiền lành; ngồi ở ngôi nhà thủy tạ bên bờ sông có thể trông xa tới tận ngôi trường Công Binh nằm phía bên kia cây cầu xi măng ngắn nơi ngăn cách con đường tráng nhựa của thị xã và con đường đất bụi của vùng ngoại vi. Nhiều buổi tối, tuy là còn sớm, nhưng cái bầu không khí u tịch của vườn tược, mương lạch bao quanh nhà làm ra như đã muộn khuya, bà cụ Pháp ngồi trên một bộ ngựa - luôn luôn là bộ ngựa bên gian phải - bỏm bẻm ăn trầu và trò chuyện với tôi một lúc, trước khi rút vào trong để nghe lén đài HàNội -đó là cách bà cụ tìm gặp mấy người con xa vắng... Còn tôi nằm trên bộ ngựa kê phía ngoài gian trái những lúc ấy tôi lắng nghe gì thì đến nay quả thật tôi mù tịt...

Đầu những năm 70 khi tránh Sài Gòn xin đổi lên Đà Lạt, làm việc tại trường Võ Bị, tôi có nhận được một xấp giấy quay ronéo thông báo về việc thành lập hội ái hữu cựu học sinh Nguyễn Trãi (Bình Dương), trong ấy thấy có tên mình được ghi vào ban Cố Vấn của hội, tôi đã nói riêng với mình : A, thế nầy là khi "hồi hưu" mình có chốn để trở về đây. Thủ Dầu Một cũng có một vài chỗ hao hao giống như Đà Lạt - như chỗ trước nhà thờ chẳng hạn - tôi thích gọi tên Thủ Dầu Một hơn là Bình Dương (có lẽ vì Bình Dương bị gắn liền với " Người Đẹp Bình Dương" và "Người Đẹp Bình Dương" thì bị gắn liền với cô T T Hằng). Bây giờ cái giấc mộng nhỏ nhoi, gần gũi ngày nào đã trở nên cái gì thật là xa vời, cách trở. Cho cả tôi lẫn anh: chúng ta đang được ướp trong tuyết giá, đang là những con người tuyết - nói ngoa hơn là những xác ướp. Có phải thế không?.

Lúc ra đến Lào Kay, tôi có gặp được anh Võ Tấn Vinh. Anh nhìn ra tôi, chứ tôi không thể nhìn ra anh. Bởi ở hai khu cách biệt, chúng tôi chỉ gặp nhau được đôi ba lần, nói với nhau vài câu ngắn ngủi, không có dịp nào trò chuyện. Xuống đến Vĩnh Phú, tôi cũng có gặp được anh Nguyễn Văn Chi (trí nhớ tôi giờ quá tệ, mấy ngày nay rồi mà lục tìm không ra tên) học cùng lớp với Charles Boyer, quê anh ở Bù Đốp, lúc học ở Nguyễn Trãi anh ấy phải xuống ở nhờ trong chùa, anh đã ở cùng, ăn cùng với tôi suốt cả năm trước khi tôi được thả (anh về sau tôi khoảng hơn một năm) Lúc làm thủ tục để rời Sài Gòn, tôi có gặp anh Nguyễn Thành Nhơn, cùng lớp với anh Vinh. Chúng tôi cùng bị khám lại phổi, tôi may mắn không bị bắt uống thuốc, còn anh Nhơn phải uống thuốc trong 3 tháng : tội nghiệp cho anh, nghèo, nhà ở tận Biên Hoà, mỗi ngày phải đi xe đò xuống Sài Gòn rồi vào Chợ Lớn để lãnh thuốc uống tại chỗ. Tôi không hiểu anh Vinh, anh Nhơn đã sang được chưa. Anh có liên lạc với các anh đó không?

Tôi thật không ngờ đã viết nổi một bức thư dài đến chừng nầy. Từ ngày sang đây, tôi thật ngại cầm đến bút, kể cả khi cần viết thư về nhà. Điều nầy chứng tỏ, ít nhứt riêng với tôi, quyển sách anh viết đã thành công . "Chữ đã đẻ ra chữ, nó đã không đẻ ra được cơm gạo cho người ta qua cơn đói lòng nhưng nó cũng không đẻ ra những phù chú, pháp thuật nhằm "mà" mắt người hòng thủ lợi (ở đây cũng như ở kia). Người ta đã không thể "nhá chữ" mà sống thì người ta cũng không thể "nuốt chữ " để say sưa quên đời và chết một cách ngu xuẩn. Chữ chỉ dùng để đọc thôi.

Chúc anh luôn mạnh khoẻ, vui vẻ, luôn có hứng thú tuôn thành chữ để cho những ai thích đọc anh, được đọc chữ nghĩa của riêng anh.

Thân,

TAM.

16 tháng 4, 2026

VTM 188 _Vịnh trăng_ Minh Tâm

 





Vịnh trăng

Đĩa vàng lơ lửng giữa lưng trời.
Soi sáng đêm dài chẳng để rơi.
Vạn thuở trần gian yêu dáng ngọc,
Ngàn năm thi sĩ ướp hương đời.
Đổi thay khi tỏ rồi khi nhạt,
Xoay chuyển lúc đầy lại lúc vơi.
Chú cuội lạc đường lên chốn ấy,
Mỏi mòn ngồi dựa gốc đa chơi.
Minh Tâm


Họa 1:

Trăng khuyết

Viễn xứ liềm trăng ở cuối trời
Một mình thoáng nhớ chợt hồn rơi
Khuyết đầu em giữ nguyền vô hạn
Khuyết cuối anh gìn thệ cả đời.
Mỗi tháng hai phần cùng ghép lại
Quanh năm một mảnh chẳng hề vơi
Tuổi già nhớ mãi thời niên thiếu
Trăng khuyết lại tròn thỏa cuộc chơi
Tâm Quã   

Họa 2:

Thu lạc bước

Giăng mắc mây thu tím cả trời
Đong đưa gió nhẹ lá vàng rơi
Giọt sương lóng lánh như viên ngọc
Hình ảnh nên thơ bức họa đời
Khi ánh tà dương dần tẻ nhạt
Lúc lòng lữ khách thấy chơi vơi
Làm sao ai hiểu tim người ấy
Ngắm cảnh thu buồn dạo bước chơi
THT

Họa 3:

Lạc Lối

Trăng sáng bao la một góc trời 
Mơ hồ tiên giới hạt sương rơi 
Bàng hoàng thiên quốc rơi ly ngọc 
Vất vả trần gian trả nợ đời 
Khoảnh khắc trăm năm như  lạc lối 
Đôi dòng nước mắt chảy đầy vơi 
Người cùng cảnh ngộ đành rơi lệ 
Tiếc nuối vô thường bỏ cuộc chơi 
Hương Lệ Oanh VA

Họa 4:

Tuần hoàn

Đêm đến trăng lên chiếu khắp trời
Canh tàn lấp lánh ánh sao rơi
Tiếc thay tạo hóa vòng luân chuyển 
Ngẫm nghĩ thời gian quá nữa đời
Thế sự thăng trầm nhiều biến chuyển
Khác chi bóng nguyệt lúc đầy vơi
Bể dâu quanh quẩn theo thời thế
Chấp nhận tuần hoàn hớn hở chơi

PTL
Canh tàn: canh 5: từ 3 giờ đến 5 giờ sáng

Họa 5:

Chiến sĩ vô danh

Tháng Tư lửa đạn vút ngang trời
Một mảnh chim bằng gãy cánh rơi
Mấy trận thư hùng đau đớn phận
Mười năm chinh chiến xót xa đời
Người đi bỏ lại đàn con lạc
Kẻ ở ngăn sao giọt lệ vơi
Xa khuất một thời lo nỗi chết
Còn ai đợi uống cà phê chơi ?!!
Nguyễn Cang
Mar. 23, 2026


1. Tân nhạc: Ru Nửa Vầng Trăng
Sáng tác: Huy Phương
Ca sĩ: Ngọc Sơn




2. Cổ nhạc: Người Điên yêu trăng
Soạn giả: Viễn Châu
Nghệ sĩ: Bùi Trung Đẳng

Trong câu 6 của bài vọng cổ, soạn giả Viễn Châu có dùng hai câu trong bài "Cáo Tật Thị Chúng" của Thiền sư Mẫn Giác:

莫謂春殘花落

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

庭前昨夜一枝梅

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Đêm qua sân trước một cành mai



Nguyên văn bài "Cáo Tật Thị Chúng" ở cuối bài vọng cổ



Tân Nhạc
Trăng hỡi trăng ơi, bao đêm rồi ta nhớ vầng trăng.
Sương khuya mờ rơi, cây tuôn ngàn lá...
Buồn ơi là... buồn.

Vọng Cổ 

Câu 1:
Nhưng tại sao ta đã ngồi đây suốt một đêm thu bốn bề giá lạnh mà vầng trăng khuya vẫn khuất dạng giữa... đêm... sầu.
(Hò 16)

Ta chờ đợi vầng trăng in bóng dưới chân cầu.
(Hò 20)
Để ôm ấp một mãnh hồn hoang dại,
nhưng đợi chờ hoài mà có thấy trăng đâu. (Xê 24)
Ta cất giọng cười mà lã chã dòng châu,
nước mắt tuôn rơi pha lẫn nước sông dài.( Xang 28)
Ta tưởng chừng vừa nhấp cạn chén men cay,
để hồn nặng u hoài rồi nửa say nửa tĩnh. (Cống 32)

Câu 2:
Trăng ơi, ta nhớ mùa trăng,
mùa trăng ly loạn mùa trăng đợi chờ. (Hò 16)
Nhưng khói lửa chiến chinh đã làm tan vỡ ánh trăng mờ. (Hò 20)
Ta điên loạn khi đất bằng nổi sóng,
mất trăng rồi là mất cả nguồn thơ. (Xê 24)
Trăng vàng ơi khuất nẻo vô biên,
ta nghe như đất lỡ trời nghiêng.(Xê 28)
Gió lướt thướt đưa hồn qua ngõ vắng,
trăng khuất lâu rồi sao ta vẫn còn điên. (Xang 32)


Câu 4:
Cười lên đi, cười nữa đi cho đất bằng chuyển động, cười lên đi cho những giọt châu rơi rụng xuống... vai... gầy. (Hò 16)

Ta ở đâu mà lạc đến phương này.
(Hò 20)
Ta muốn khóc nhưng sợ người chê khiếp nhược,
ta muốn cười nhưng sợ họ gọi mình điên. (Xê 24)
Hãy đưa ta về chốn cung tiên,
mượn trăng thanh gió mát làm duyên. (Xang 28)
Và nằm gọn trong vòng tay ngọc nữ,
cho phút giây được quên mối ưu phiền. (Hò 32)

Câu 5:
Ta sẽ ca lên bài ca điên loạn,
ai có nghe xin chớ vội chê cười. (Hò 16)
Ta vẫn còn đây với số kiếp con người. (Hò 20)
Nhưng thấy trắng nói đen nhìn quen ra lạ,
cho nên mọi người mới gọi kẻ cuồng tâm. (Xê 24)
Khi ta đi trăng vàng tỏa bóng,
ngày ta về khuất dạng vầng trăng. (Xê 28)
Ta cười mà khóe mắt rưng rưng,
nửa sầu nhân thế nửa thương chuyện đời. (Xề 32)

Câu 6:
Ôi!
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

Ta bỗng dưng thèm khát vị men cay,
uống từng ngụm cho say đừng tĩnh nữa.
(Cống 16)
Hãy rót đi! 
ta đang chờ em đó,
ruợu cạn rồi ta nằm giữa tha ma.(Xê 20)
Đừng ai gọi đến tên ta,
thế nhân vẫn tĩnh còn ta loạn cuồng. (Xề 24)
Khóc
cho mình số kiếp đau thương,
cười nhân thế nay dời mai đổi.( Xê 28)
Đâu đây khói lửa chưa tàn,
thiếu ánh trăng vàng nên ta vẫn còn điên. (Hò 32)

Bài thơ Cáo Tật Thị Chúng của Thiền Sư Mẫn Giác

 

告疾示眾

Cáo tật thị chúng

Có bịnh bảo mọi người

春去百花落

Xuân khứ bách hoa lạc

Xuân đi trăm hoa rụng

春到百花開

Xuân đáo bách hoa khai

Xuân đến trăm hoa cười

事逐眼前過

Sự trục nhãn tiền quá

Trước mắt việc đi mãi

老從頭上來

Lão tòng đầu thượng lai

Trên đầu, già đến rồi

莫謂春殘花落

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết

庭前昨夜一枝梅

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai

Đêm qua sân trước một cành mai

Mãn Giác Thiền sư

 滿覺禪師 (1052-1096)

Trần-Lâm Phát chú âm

Ngô tất Tố dịch

 

 Giảng nghĩa: Trần-Lâm Phát

Cáo

Báo cho biết, trình lên cho biết

Tật

Bịnh

Thị

Mách bảo cho biết

Chúng

Đám đông, số người


Cáo tật thị chúng: Báo bịnh cho mọi người


Xuân

Mùa xuân

khứ

đi (như khứ hồi là đi và về)

bách

100

hoa

bông hoa

lạc

rơi, rụng


Xuân khứ bách hoa lạc: mùa xuân qua rồi, hàng trăm hoa rụng


Xuân

Mùa xuân

đáo

đến

bách

100

hoa

bông hoa

khai

mở, nở ra


Xuân đáo bách hoa khai: mùa xuân đến, hàng trăm hoa đua nở


Sự

việc là

trục 

đuổi theo

nhãn

con mắt

tiền

phía trước

quá

vượt qua như quá khứ là thời gian đã qua


Sự trục nhãn tiền quá: việc đuổi theo nhau đi qua trước mắt


Lão   

Già

tòng

theo

đầu

cái đầu

thượng

trên

lai

đến


Lão tòng đầu thượng lai: già theo từ trên đầu mà đến


Mạc

chớ đừng, không phải

vị

nói, gọi là

xuân

mùa xuân

tàn

tàn tụa

hoa

bông hoa

lạc

rơi, rụng

tận

hết


Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận: Đừng nói cuối mùa xuân hoa rụng hết


Đình    

Sân trước nhà

tiền

Mặt trước

tạc

Hôm qua

dạ

đêm

nhất

1

chi

cành

mai

hoa mai


Đình tiền tạc dạ nhất chi mai: sân trước  nhà, tối hôm qua 1 cành mai trổ ra