23 tháng 9, 2026

VTM 196_ Tự Tình_Tâm Quã

 









Xướng:

Tự tình

Gió nhẹ se lòng khách lãng du
Cung hằng nguyệt quế phủ mây mù
Từ khi Thạch Hản ngăn dòng chảy
Lối rẽ Trường Sơn rợp lá thu
Nửa cuộc buồn đau rời cố quận
Cả đời đượm nhớ mãi lời ru
Tề Thiên cũng có nơi sinh nở
Há dễ quên Thầy chẳng nhớ U.

Tâm Quã

Họa 1:

Mơ màng

Tâm thần một thuở bị ngao du
Giấc ngủ lim dim tựa mắt mù
Thấp thỏm trong mơ theo nước chảy
Lâng lâng với gió nhẹ đêm thu
Ngọt bùi ngày tháng nơi quê mẹ
Thánh thót bên thềm vọng tiếng ru
Ai óan âm thanh như nức nở
Chợt đầu chạm cột trán sưng u

THT

Họa 2:

Ngao du

Tâm hồn thanh thản bước ngao du
Lạc lỏng sương khuya trắng mịt mù
Nổi bật sắc màu nhìn sặc sỡ
Bâng khuâng lữ khách lạc rừng thu
Lâng lâng tiềm thức còn lưu luyến
Trầm bổng âm thanh tiếng Mẹ ru
Hồi tưởng cội nguồn thời cố quốc
Trưa hè trốn nắng rặng mù u

Hương Lệ Oanh VA

Họa 3:

Luân chuyển

Cuối hè nghĩ đến chuyện chu du
Sáng sớm sương rơi phủ mịt mù
Vàm cỏ lững lờ theo ngọn gió
Núi Bà sừng sững cả ngàn thu
Bốn mùa luân chuyển theo ngày tháng
Xa cách quê nhà nhớ tiếng ru
Văng vẳng xa đưa bài Dạ cổ
Tâm tư khắc khoải tưởng lời U

PTL
Dạ cổ: dạ cổ hòai lang 夜鼓懷郎 (đêm nghe tiếng trống, nhớ chồng) của ông Sáu Lầu sáng tác năm 1919 tại Bạc liêu.


Họa 4:

Tâm Sự 

Nay thời buồn lắm kiếp lãng du
Quanh đây trời đất phủ mây mù.
Thương về đất nước hồng hoa phượng
Nhớ đến quê nhà vàng lá thu.
Đẹp lắm vườn nhà hoa rợp nở
Thương hoài tiếng võng mẹ luôn ru.
Dù xa bìên biệt ta tâm nguyện:
Luôn nhớ ơn Thầy thương mãi U!

Hàn Thiên Lương

Họa 5:

Một thoáng ưu tư

Ngắm xem thiên hạ, trí phiêu du
Vạn quốc đảo điên, loạn rối mù.
Giành đất tiến binh mùi thế chiến,
Tranh vương đoạt bá kiểu Xuân Thu.
Tai nghe thảm thiết trời bom nổ,
Lòng ước êm đềm tiếng mẹ ru.
Soi cổ luận kim buồn thế sự,
Bao giờ quả đất hết âm u ?

Minh Tâm

Họa 6:

Tha hương

Tha hương lữ khách mộng ưu du
Mấy độ xa quê phủ bóng mù
Cố quốc nghìn trùng lòng khắc khoải
Tha phương vạn nẻo lệ sầu thu
Quê xưa cách trở tình hoài vọng
Đất khách lưu vong nhớ tiếng ru
Dẫu bước phong trần thân viễn xứ
Xa xôi vạn nẻo nhớ lời U

AI


1.Tân nhạc: Thương nhớ quê nhà
Sáng tác: Hàn Châu
Ca sĩ: Thúy Huyền



Chiều [Em] nay gió về bên sông
Gió nâng [A] niu chùm hoa nắng [Em] vàng
Gió lang [A] thang dạo vùng thương [Em] nhớ
Nhớ quê xưa [D] có mái tranh [Em] nghèo
Có hàng dừa tóc xoã trên [B7] sông bóng mát làng quê
Làng [Em] quê của tuổi ngây thơ
Đã cho [A] em tình yêu bất [Em] ngờ
Đã đưa [A] em chìm vào nhung [Em] nhớ
Nhớ khôn nguôi [D] bóng dáng một [Em] người
Chung một đường với nụ cười [B7] tươi đôi mắt liếc đa [Em] tình
Tình [E] yêu ơi tình yêu [C#m] ơi của tuổi học [Bm] trò
Đẹp tựa tranh [F#m] mơ em ôm sách [B7] vở mong anh từng [E] giờ
Anh lại hững [D] hờ cho tình bờ [F#m] vơ
Vì em phận [E] nghèo nên mối duyên [B7] đầu không đi chung nhịp [E] cầu
Giờ [Em] đây tóc bạc sương phai
Nhớ quê [A] xưa tình yêu rất [Em] lạ
Dẫu đau [A] thương chuyện tình đã [Em] qua
Nhớ quê hương [D] vẫn nhớ vô [Em] cùng
Có buồn phiền câu chuyện tình [B7] ta thương nhớ, nhớ mặn [Em] mà

https://www.youtube.com/watch?v=P0MwV85man4&list=RDP0MwV85man4&start_radio=1




2. Cổ nhạc: Nổi nhớ quê hương

Sáng tác: Nữ Võ sư Hồ Hoa Huệ
Nghệ sĩ: Trang Nguyễn




Nói lối:

Bên trời Âu nhưng lúc buồn thơ thẩn
Chiều thả hồn lại nhớ đến quê hương
Về đâu.. đám lục bình tim.. tím.. nhớ
Không bến không bờ, trôi dạt tha phương..

Vọng cổ:

Câu 1:

Có ai biết được nỗi lòng người xa...xứ...
Nhìn lá vàng rơi thêm chạnh nhớ...quê... nhà...

Nhớ dòng nước phù sa, nhớ hương lúa đậm đà.
Nhớ các nhà nông tay cày tay cấy.
Gặt hái vụ mùa vào những đêm trăng.(SL)
Trai gái cùng nhau hát hò đối đáp, nhớ nhất là mỗi năm vào mùa tháng chạp.
Tiếng quết bánh phồng vang dội gần xa ...
Giã gạo chày ba mà cười vui rộn rã..(SL)

Câu 2:

Trời châu Âu những tháng ngày rong rũi, buồn dâng cao khi đêm lại quay về.
Nhớ tà áo trắng nữ sinh với mái tóc thề.
Nhớ chiếc áo bà ba đậm đà nh xứ sở, nhớ rặng trâm bầu nhớ lũy tre xanh.
Nhớ con đe dài của làng nhỏ uốn quanh, với chiếc cầu tre xiu dẹo gập ghềnh lắc lẻo.
Nhớ chiếc võng đong đưa tiếng ru hời của Mẹ, dẫu chinh chiến bao lần nhưng đất Mẹ vẫn thủy chung...(SL)

Nói lối:

Thu Paris cơn mưa buồn ủ rũ.
Lá vàng rơi làm choa đảo tim côi..
Cơn gió nhẹ nhớ quê hương da diếc
Như ngọt ngào tiếng ngoại vẫn bên tôi..

Câu 4:

Nhớ lắm ngoại tôi tuổi già bóng xế..
Tóc trăng như bông chuyện kể ...quê... mình...

Nhớ chuyện ngày xưa mà nghe như ấm lại thâm tình.
Nhớ cơm vắt mo cau thương cho cuộc đời của ngoại,
Với chiến nón bạc màu dầu dãi nắng mưa.(SL)
Con đò chiều mấy lượt đón đưa, bên dòng sông nhỏ có bóng dừa mát rượi.
Văng vẳng đâu đây tiếng của thạch sùng tức tửi, nhơ hờn trách kẻ nhớ quê sao không sơm quay về.(SL)

Câu 6:

Đêm qua đi tôi thả hồn kỷ niệm,
Nhìn dòng sông seine mà chạnh nhớ quê xưa.
Nhớ con sông Tiền sông Hậu nên thơ,
Nhớ chiêc xuồng nhỏ lững lờ buồn.. xuôi ngược.
Tình người nơi thủy chug sau trước, như con sông dài chở nặng nước phù sa.
Nhớ tiếng sáo mục đồng dìu dặt của quê ta, những cánh cò trắng lẵng là bay về tổ.
Hoàng hôn xuống đôi bờ nghe sóng gió, làm chao đảo chiếc xuồng câu trên mặt nước sông đầy.(SL)
Đêm trăng tát nước gàu sòng,
Thương ai cấy lúa trên đồng ruộng xa.
Còn tôi xa xứ nhớ nhà,
Nghe câu vọng cổ đậm đà tình quê. (SL)

03 tháng 9, 2026

VTM 195_Sinh nhựt tự trào_Minh Tâm

 


Xướng:

Sinh nhựt tự trào


Bảy mươi đời gọi cổ lai hy.
Mặn nhạt chua cay chẳng thiếu gì.
Sóng biển lặng yên mòn mắt đợi,
Đường trần đèo dốc mỏi chân đi.
An bần lạc đạo thôi đành vậy,
Ngoạn thủy du sơn đặng mấy khi.
Nắn nót cung đàn vui tuổi hạc,
Tri âm trao gửi mấy vần thi.

Minh Tâm

Họa 1:

Tự tình

Tuổi hạc vừa qua thất thập hy
Gần xa bạn hửu ước mong gì
Trà mai rượu tối cùng nhau hội
Vũ khúc đàn ca mỗi cặp đi
Biển mặn muôn đời vươn sóng vỗ
Rừng xanh mấy thủa đứng yên khi
Nương làn gió nhẹ tìm tri kỷ
Bốn biển tương tình lược nét thi.

Tâm Quã

Họa 2:

Thế Sự 

Thắm thoát tuổi đời quá cổ hy 
Vinh hoa phú quý chẳng lo gì 
Ngọt bùi thế sự không lường được 
Mặn đắng thăng trầm phải bước đi 
Xứ lạ quê người đành chấp nhận 
Rũi may định mệnh đến đôi khi 
Cuộc đời chọn lựa nào ai biết 
Hiện tại an nhàn xướng họa thi 

Hương Lệ Oanh VA 
Aug, 12. 2026

Họa 3:

Yên bình

Trung Quốc rạng ngời Đại đế Hy
Cơm no áo ấm chẳng lo gì
Thanh bình dân chúng hằng chờ đợi
Đói khổ mọi người vội tiễn đi
Vận chuyển cơ trời giờ được vậy
Đổi thay vận nước có đôi khi
Bước chân rón rén vào tuổi hạc
Thơ thẩn lôm côm nẽo vườn thi
THT

Đại đế Hy: Khang Hy đại đế, tên thật 
Ái Tân Giác La Huyền Diệp  愛新覺羅玄燁. Sinh năm 1654 và mất năm 1722.
Ông là vị hoàng đế thứ 3 của nhà Thanh và trị vì trong 61 năm (1661–1722). 
Trong thời gian trị vì, ông dùng niên hiệu Khang Hy 康熙
Ông được đánh giá là một trong những vị hoàng đế vĩ đại nhất lịch sử Trung Quốc và được xưng tụng là Khang Hy Đại đế 康熙大帝

Họa 4:


Thanh thản

Đỗ Phũ “Khúc giang” luận cổ hy
Nhắc về nợ rượu quản làm gì
Thời gian trầm bổng làm mù quáng
Cuộc sống gian truân vững gót đi
Thanh thản giúp đời luôn giữ đạo
Hiểu lầm suy thoái tránh ngàn khi
Chu du sơn thủy cùng năm tháng
Thi tửu cầm kỳ với họa thi

PTL

cổ hy 古稀: xưa nay ít có. Ý nói ít có người bảy chục tuổi.
Đỗ Phủ 杜甫 trong bài Khúc Giang kỳ 2 
曲江
其二  có câu:
Tửu trái tầm thường hành xứ hữu,
酒債尋常行處有,
Nhân sanh thất thập cổ lai hy
人生七十古來稀

Nghĩa là :

Nợ rượu là chuyện tầm thường nơi nào chẳng có, 
Từ xưa đến nay người đời ít ai sống được bảy mươi tuổi



Họa 5:


Vong quốc Tự Trào

Nay thời chớ nói Cổ Lai Hy
Thọ tới trăm năm chẳng hiếm gí !
Mặc kệ ai sầu đau ngóng đợi
Vô tình họ hảnh diện bước đi.
Thế gian suy kiệt thôi đành vãy
Nghĩa khí hùng anh được mấy khi !
Vong quốc làm sao vui tuổi hạc
Tri âm ngào nghẹn mấy vần thi !

Hàn Thiên Lương

Họa 6:


Họa 7:

Tuổi già an nhiên
Tuổi vãng sương pha hóa cổ hy,
Đời người mộng ảo tiếc làm gì.
Mây ngàn gió cuốn mờ con mắt,
Dốc thẳm đèo cao mỏi gối đi.
Lòng đạo an nhiên vui cảnh vậy,
Duyên thơ thưởng ngoạn đặng muôn khi.
Ngâm nga thơ phú quên ngày tháng,
Tri kỷ đợi người để họa thi.
AI

Thấm thoát xuân xanh hóa cổ hy,
Trần gian mộng ảo tiếc làm gì.
Bụi bay danh lợi làm mờ mắt ,
Vó ngựa tháng ngày chân mỏi đi.
Một ấm trà thơm vui quá vậy,
Muôn nơi cảnh đẹp thưởng đôi khi.
Ngâm nga thơ phú quên niên tuế,
Tri kỷ đợi người để họa thi.
AI
Rất vui vì bạn đã yêu thích bài họa này! Chúc bài thơ của bạn khi gửi đến Vườn thơ tài tử sẽ nhận được nhiều sự đồng điệu và thưởng thức từ các bạn thơ tri âm.
Nếu sau này bạn có thêm bài xướng nào khác hoặc muốn tiếp tục xướng họa, hãy cứ gửi cho tôi nhé. Chúc bạn luôn dồi dào sức khỏe, tràn đầy niềm vui tuổi hạc và luôn giữ vững nguồn cảm hứng thi ca
!


1. Tân nhạc: Rồi cũng già
Sáng tác và trình bày: Vũ Thành An




2. Tân cổ: Tôi đã già

Soạn giả: Trần Chiến

Nhạc Vũ Vĩnh Phúc

Nghẹ sĩ: Thanh Nhường

 




Tân nhạc:

Một chiều nhìn qua gương, tóc điểm sương biết mình đã già.
Thời gian dần đi qua, những vết nhăn đã hằn lên má.
Đời người như chiếc lá,
Lá xanh kia cũng dần úa vàng.
Lìa cành rơi xuống đất rồi mục nát, rồi biến tan.
Chuyện tình từ xa xưa, cứ ngỡ như mới tự hôm nào.
Cuộc đời tựa chiêm bao, cũng chóng qua như là thay áo.
Còn lại bao nhiêu nữa những tháng năm vui buồn kiếp người
Giận hờn hay ghen ghét, hãy bỏ buông cho đời mãi tươi!
Còn lại bao nhiêu nữa những tháng năm vui buồn kiếp người
Giận hờn hay ghen ghét, hãy bỏ buông cho đời mãi tươi!

Vọng cổ:

Câu 1:

Thời gian đã hằn lên đôi má. Tóc gió thôi bay, điểm trắng nỗi .. ai.. hoài..
Lăng lẽ soi gương rồi khe khẻ thở dài.
Nhìn đàn chim bay về tổ ấm. Xào xạc lá vàng rơi rụng đầy sân.
Chú Nhang rừng thoang thoát đôi chân. Tìm trái ngọt khi hoàng hôn ngã bóng.
Khói lam chiều phảng phất hương hoa. Kẻ ở miền xa, có về nơi bến đợi ?

Câu 2:

Còn lại bao nhiêu nữa.. ư.. những tháng năm vui buồn kiếp người?
Tích tắc thoi đưa phai nhạt tiếng cười. Hãy bỏ buông cho lòng thanh thản.
Vững chãy yêu đời, thưởng cảnh ngắm hoa.
Vui bên tách trà với khúc nhạc lời ca, nắng táp mưa sa lệ lòng sâu lắng.
Ly cà phê chan hòa giọt đắng, ngọt ân tình đắng nỗi sầu riêng.

Nói:

Ta đã già. Ha ha ha ha.
Ta đã già rồi.

Tân nhạc:

Làm sao níu lại được thời gian?
Để ta gặp lại người trong mộng.
Làm sao giữ lại được thời gian?
Để ta chuộc hết những lỗi lầm.
Ta đã già đừng hờn dỗi
Cứ thong dong mà vãng cảnh mây trời
Sân si làm gì cho mệt mỏi
Gặp nhau trao nhau nụ cười thân ái trên môi..

Vọng cổ:

Câu 5:

Hãy giữ trên môi nụ cười thân ái, đừng nếu kéo thời gian tìm người trong mộng vì người cũ ngày xưa đã khuất dạng ... xa... mờ....
Hiện tại nơi đây sao lại hững hờ?
Ta đã già đừng hờn dỗi nữa, hãy chuộc lại những lỗi lầm bằng tiếng nhạc lời ca.
Có gì đẹp trên đời hơn thế nữa.
Người yêu người sống để yêu nhau.
Vãng cảnh mây trời đêm ngắm trăng sao.
Hai mươi năm cuối là bao hỡi người ?

Câu 6:

Chiều tàn nhìn mây trôi, nắng phai phôi ở tận cuối trời.
Đời người buồn hay vui cũng chóng qua như làn mây khói
Làm sao ta níu giữ tuổi thanh xuân cho mình khỏi già?
Ừ ừ thôi ta cứ sống, sống cho người và sống cho ta.
Không chỉ chắc thật và miên viễn.
Và dĩ nhiên ta cũng đã già!
Ta trả mây trời bao viễn mơ, của ngày tuổi trẻ đã xa mờ. Của đêm quen sống trong hoài niệm, bỏ hiện tại gầy hao.. xác xơ..




13 tháng 8, 2026

VTM 194_Về thăm quê cũ_PTL

 



Về thăm quê cũ


Đã lâu lắm mới về thăm quê cũ
Lũy tre làng che mát lối vào thôn
Cảnh vật xung quanh quyến luyến bồn chồn
Những kỹ niệm ấu thời như sống lại

Ngôi trường cũ nay không còn tồn tại
Mái nhà tranh đã vụt đổi thay màu
Bước ra vườn ngắm lại mấy hàng cau
Dây trầu đó nhưng không còn sức sống

Hàng tiêu sọ năm xưa đà trống rỗng
Cây nhãn lồng biến mất tự lâu rồi
Mắt đảo quanh chỉ biết nói hỡi ôi
Nay mới hiểu tang điền vi thương hải

PTL

Nhãn lồng là loại cây hoang, trái rất ngọt
Chim quyên ăn trái nhãn lồng (ca dao)


Tang điền vi thương hải là đảo ngữ thương hải vi tang điền  蒼 海 為 桑 田

Ðiển tích:  

Theo Thần Tiên truyện, Vương Phương Bình, người đời Hậu Hán, đỗ Hiếu Liêm, làm quan đến chức Trung Tán Ðại Phu,
Ông từ quan đi tu Tiên, đắc đạo, giáng xuống nhà Thái Kinh,
Ông cho sứ giả mời Tiên Nữ Ma Cô đến.
Phương Bình hỏi Ma Cô về thời gian cách biệt.
Ma Cô nói với Phương Bình rằng: Từ khi biết ông đến nay, đã thấy biển Ðông đã ba lần biến thành ruộng dâu.

https://quangduc.com/a31793/bai-be-nuong-dau

Họa 1:

Nhớ quê

Đêm khuya vắng nhớ về bao chuyện cũ
Giữa thị thành hồn gửi chốn hương thôn
Lá thu phai làm gối mỏi chân chồn
Bao ký ức xa xưa còn giữ lại

Tuổi lão hạc những mong lòng tĩnh tại
Sống bình an giữa thế giới muôn màu
Lòng bâng khuâng nhớ bến nước buồng cau
Làng quê nhỏ hiền hòa xưa đã sống

Nhớ gáo nước bên đường khi bụng rỗng
Tình tương thân chòm xóm đã xưa rồi
Cây khoai mì, củ lá rất thương ôi
Mãi gợi nhớ theo dòng đời hồ hải.

Minh Tâm

Họa 2:

Ngỡ ngàng

Bao năm viễn xứ giờ về xóm cũ
Rảo bước chân đi đến tận cuối thôn
Ôi thấy lòng sao quá lạ bồn chồn
Quê hương ngoảnh mặt cùng người trở lại

Xót xa quá ngỡ ngàng cùng thực tại
Còn gì đâu hình ảnh đẹp phai màu
Đâu mất rồi những nải chuối buồng cau
Giờ làng xóm như không còn sức sống

Tâm hồn chết như nhà hoang trống rỗng
Bước hồi hương giấc mộng vỡ tan rồi
Sao diêu tàn biến đổi thế than ôi
Tuôn nước mắt chạnh lòng người hồ hải

THT

Họa 3:

Cội Nguồn 

Chôn nhau cắt rún nơi quê làng cũ
Cội nguồn xưa tổ phụ ở đầu thôn 
Trầm tư liên tưởng dạ mãi bồn chồn 
Chồng chất nửa trăm năm giờ nghĩ lại 

Chợt nhớ nhà một mai đời hiện tại 
Đã bao phen thay đổi sớm phai màu 
Ngôi nhà xưa sừng sửng cạnh hàng cau 
Thâm tình ấy xa dần trong cuộc sống 

Ngôi trường cũ giờ đây đà trống rỗng 
Xót xa nhìn kỷ niệm mất đâu rồi 
Vật đổi sao dời thế sự than ôi 
Bao mơ ước nay tang điền thương hải 

Hương Lệ Oanh VA 
July, 19. 2026

Họa 4:

Về với Cao nguyên

Vẫn còn nhớ một lần về chốn cũ
Thăm quê nhà dù chỉ ở cô thôn
Nhìn voi rừng chung sống với beo chồn
Cùng cưỡi ngựa vòng quanh làng đi lại

Người bản xứ bằng lòng với hiện tại
Nắng hay mưa cây trái vẫn xanh màu
Như dây trầu quấn chặt lấy thân cau
Dẫu cam khổ bên nhau cần kiệm sống

Nếp văn hóa thực chất không sáo rỗng
Giữa ghét thương nói thẳng với nhau rồi
Vẫn chí tình đùm bọc chẳng hàm ôi
Huynh đệ mãi giữ tình thân tứ hải.

Tâm Quã

Họa 5:

Quê hương bỏ lại

Quê ta đó chưa lần thăm chốn cũ
Kể từ khi khói lửa ngập làng thôn
Nhớ nhà xưa lòng vẫn cứ bồn chồn
Thương cha mẹ tóc pha sương ở lại

Hàng thốt nốt, bến tắm sông, hiện tại
Còn đó không hay canh tác hoa màu
Bóng dừa xanh lã ngọn mấy hàng cau
Hoàng hôn xuống khói lam hòa nhịp sống

Nay bất chợt chiều hanh hao trống rỗng
Quê hương ơi nước mắt cạn khô rồi
Thầy bạn xưa giờ mất dấu than ôi
Đời hư ảo, ai nhớ câu thệ hải ?!!

Nguyễn Cang
July 19, 2026

Họa 6:

Giọt Lệ Cố Hương

Ta trở lại một chiều qua xóm cũ
Đã lâu về nên lạc nẽo cô thôn
Sao xa lạ lòng ta thấy bồn chồn
Xóm nhà xưa giờ nầy xơ xác quá!

Mái trường xưa đã điêu tàng đổ sụp
Ngôi đình làng nắng gió cũng phai màu
Chỉ còn lại xơ xác mấy cây cau
Mồ mẹ tôi u buồn vàng cỏ uá!

Thật đau xót cõi lòng người trở lại
Ôi cố nhân cũng khuất bóng đâu rồi
Cuộc tang hải đau lòng thât…hỡi ơi
Tôi bước đi cõi lòng như mưa gió !

Hàn Thiên Lương
*8-2026** Oregon ** Usa

Họa 7:

Khói tóc cố hương

Sương viễn xứ ngỡ ngàng màu tóc cũ
Lối mòn xưa nay lạc dấu đường thôn
Nghe tiếng lòng viễn xứ luống bồn chồn
Trông cánh én ngỡ mùa xuân trở lại.

Trường yêu dấu mái rêu không tồn tại
Chút tình quê theo nắng úa phai màu
Mưa sụt sùi qua kẽ lá giàn cau
Thương bóng mẹ một đời gom nắng sống.

Hiên vắng ngắt tiếng võng đưa trống rỗng
Khói hoàng hôn loang loáng khuất lâu rồi
Đời phù vân giong ruổi bấy nhiêu... ôi!
Thương bãi bể nương dâu nghìn dặm hải.

AI



1. Tân nhạc: Tha La xóm đạo

Sáng tác: Dzũng Chinh
Ca sĩ: Hương Lan

Tha La xuất phát từ “Schla” trong tiếng Khmer, có nghĩa là trạm, nơi nghỉ

Xóm đạo Tha La nằm tại xã An Hòa, quận Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh. Tha la nằm bên tay trái của quốc lộ 1 (nay là 22) từ Sài gòn lên Tây ninh.

Xóm đạo này được thành lập vào khoảng năm 1863 dưới sự khuyến khích của người Pháp.

Vũ Anh Khanh viết bài thơ này vào mùa xuân năm 1949 khi về Tây Ninh ăn Tết cùng nhà văn Thẩm Thệ Hà

Đây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh.
Ngậm ngùi Tha La bảo:
- Đây rừng xanh rừng xanh
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh.
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.

- Viễn khách ơi!
Hãy dừng chân cho hỏi,
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng.

Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng,
Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ.
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?
Ai đưa đón?
- Xin thưa, tôi lạc bước!

Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ,
Nhìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nghìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.
Tha La hỏi:
- Khách buồn nơi đây vắng?
Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!

- Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn,
Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít.
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà.
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán,
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa,
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa,
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh.
Khách rùng mình, ngẩn ngơ lòng hiu quạnh.
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già.
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch,
Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng.
- Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng:
“Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!

Người nước Việt ra đi vì nước Việt.
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi đau đất nước lầm than.”

Trời xa xanh, mây trắng ngoẹn ngàn hàng,
Ngày hiu quạnh. Ờ.. ơ.. hơ tiếng hát.
Buồn như gió lướt lạnh dài đôi khúc nhạc
Tiếng hát rằng:
Tha La giận mùa thu,
Tha La hận quốc thù,
Tha La hờn quốc biến,
Tha La buồn tiếng kiếm,
Não nùng chưa!
Tha La nguyện hy sinh.
Ơ.. ơ.. hơ.. có một đám chiên lành.
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy.
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
Lạy Đức Thánh Cha!
Lạy Đức Thánh Mẹ!
Lạy Đức Thánh Thần!
Chúng con xin về cõi tục để làm dân...

Rồi... cởi trả áo tu.
Rồi... xếp kinh cầu nguyện.
Rồi... nhẹ bước trở về trần...
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy dừng chân.
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ.
Trời Tha La vần vũ đám mây tan.
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi mà bẽ bàng?
Ơ... ơ... hơ... ờ... ơ... hơ... tiếng hát
Rung lành lạnh ngâm trầm đôi khúc nhạc.
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách đi thôi

Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ,
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
Lá rừng cao, vàng rụng lá rừng bay...
Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
- Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành.
Tha La dâng ngàn hoa gạo,
Và suối mát rừng xanh.
Xem đám chiên lành thương áo trắng.
Nghe mùa đổi gió nhớ quanh quanh.




2. Vọng cổ: Thương về quê cũ
Cố Soạn giả: Viễn Châu
Cố Nghệ sĩ: Thành Được



Trong câu 3, soạn giã nói đến "lễ kỳ yên"
Lễ kỳ yên 祈安禮 (kỳ an lễ) đúng tên là lễ kỳ an của người miền Nam. Chữ yên đọc trại âm của chữ an. Đó là lễ tại đình hay miếu để "cầu mong sự bình an". Tùy theo đia phương, đây là lễ tế "Thần Thành Hoàng" lớn nhất trong năm; thường tổ chức vào giữa tháng giêng cho đến tháng 3 Âm lịch. 
Ngoài nghi thức tế lễ, rước thần còn có hát bội.

Nói lối:

Hò..ơ..ơ..ơ...đèn nào cao cho bằng đèn Châu đốc
Gió nào độc bằn gió Gò công
Tháng mười trời đã lập đông
Nhớ miền quê cũ ờ...Hò ... ơ...ớ.. ơ...nước mắt thầm nhỏ tuôn...

Câu 1:

Ai có về quê tôi xin gởi đôi lời thăm hỏi..Dù hai mươi năm làm thân viễn xứ , tôi vẫn còn thương, còn nhớ một...phương...trời.
Thấm thoát bao năm với kỷ niệm xa vời...
Nhớ người Mẹ mái đầu điểm trắng, đang thẩn thờ tựa cửa chờ con.(SL)
Trời sang đông ruộng lúa ngát hương thơm, hoa bưởi hoa cau rụng trắng sân vườn.
Vài tiếng gà xao xác đầu thôn, như nhớ như thương một mối tình viễn xứ...(SL)

Câu 2:

Mẹ ơi! Tình mẫu tử vẫn nặng nề tha thiết, sao con lại ra đi cách biệt mấy phương trời...
Nhớ Mẹ già nua trong kiếp sống đọa đày...
Ai săn sóc Mẹ lúc trời trở gió, khi mớ tuổi già đã chất nặng oằn vai.(SL)
Dưới mái tranh nghèo gió tạt mưa bay, trong xóm nhỏ với chuỗi ngày lao khổ.
Mỗi một mùa xuân trở về bên song cửa, là mỗi một lần suối lệ tràn mi...(SL)

Câu 3:

Nhớ những đêm xuân làng quê mở hội, nhộn nhịp tưng bừng dự lễ kỳ yên.
Lòng gái trai nao nức bâng khuâng, khi tiếng trống đầu thôn vọng đến.
Trên những lối đi lập lòe bầy đom đóm, đang soi đường như kết hội hoa đăng.(SL)
Tiếng sáo diều lơ lửng giữa không trung, như khúc nhạc thanh bình rộn rã.
Ai đã ra đi mới biết đường xa xứ lạ, tại không phút giây hoài vọng chốn quê nhà.(SL)

Lý con sáo:

Ta.. ra đi..(SL). xa cách quê nghèo thân yêu...(SL)
Đời phong trần ngược xuôi.(SL)
Ta lang thang trong gió bụi quê người.(SL)
Thấm thoát mấy xuân rồi.(SL)
Lòng bồi hồi khi trời lên gió đông.(SL)
Như báo tin đến đây một mùa xuân.(SL)
Mà quê nghèo từ khi cách xa.(SL)
Bao nhớ nhung chỉ riêng mình ta...(SL)

Câu 4:

Làm sao quên được những quán hàng của cô gái quê dịu hiền mộc mạc...Bát nước dừa tươi mát lịm cả... tâm...hồn...
Hương vị đồng quê sao thắm thiết êm đềm..
Muối Bạc liêu mặn tình biển cả, mớ than hồng ấm áp mũi Cà mau.(SL)
Ăn gạo Móng chim nhớ ruộng Sóc trăng, đêm ngũ chiếu nhớ lác miền Đồng tháp.
Ôi tình quê hương muôn đời bất diệt, biết làm sao cho cạn ý mong chờ.(SL)

Câu 5:

Nhớ con sông lượn quanh co uốn khúc, nước phù sa rào rạt chảy xuôi dòng...
Bãi mía, nương dâu loáng thoáng tận mây hồng...
Mấy luống cải hoa vàng bát ngát, bắp trổ cờ đón gió múa lộng chiều xuân.(SL)
Đường vào thôn có rặng truc quanh co, trâu đục nắng dưới cội đa già im bóng.
Thuyền ngư phủ nhẹ ngàng lướt sóng, trôi về đâu nơi bến vắng xa mờ.(SL)

Câu 6:

Ôi đẹp nào hơn bằng đẹp của quê hương,
Hồn dân tộc đượm thêm tình đất ước.
Hai mươi năm làm thân lữ khách, nhưng lúc nào tôi cũng nhớ quê hương.
Nhớ mùi lúa non, nhớ tiếng võng đưa, nhớ con rạch nhỏ dưới cầu tre lắc lẻo.
Kìa quê cũ có cây lành trái ngọt, vẫn đón chờ ai đang lạc bước phong trần.(SL)
Sông Hậu giang nối tiếp Tiền giang, mang thương mến khắp nẻo đường đất nước.
Lá thơ cạn ý mong chờ,
Biết đến bao giờ tôi trở lại quê hương.(SL)

10 tháng 8, 2026

Chữ “Ký” trong tiệm ăn_Đỗ Duy Ngọc



Chữ “Ký” trong tiệm ăn, chữ “Đường” trong tiệm thuốc, chữ “Tự” trong ngôi chùa và chữ “Kim” trong tiệm vàng

Thời còn đi học, nhất là mấy năm đầu, bởi vì học ban Việt Hán, có môn Hán Văn nên chịu tìm tòi chữ Hán dữ lắm. Còn nhớ hồi ấy GS Trần Trọng San, người có in sách dịch thơ Đường; và GS Phan Hồng Lạc dạy môn đó. Học Hán Văn thì phải có tự điển. Cuốn Tự điển Hán Việt của tác giả Thiều Chửu là cuốn mà sinh viên nào cũng ráng mua để tra cứu. Trong lớp có mấy bạn là thầy tu Phật giáo từng học chữ Hán trong chùa nên rất giỏi môn này. Tôi nhờ có chút hoa tay nên chỉ được viết chữ đẹp, còn Hán không rộng lắm. Do đó, tôi và vài người bạn thường vào Chợ Lớn, nhìn các bảng hiệu để đoán chữ như là một cách học thêm. Thuộc cho đủ 214 bộ thủ trong chữ Hán là việc không dễ nhưng không thuộc thì khó tiến bộ và tiếp thu rất chậm.

Trong những lần lang thang học chữ như vậy, tôi thắc mắc rằng tại sao tên các tiệm, các quán ăn người Hoa thường có chữ Ký; các tiệm thuốc và chữa bệnh có chữ Đường, chùa chiền thường có chữ Tự, và tiệm vàng có chữ Kim.





Trước hết là chữ Ký. Ở Sài Gòn-Chợ Lớn ta thường bắt gặp nhiều bảng hiệu như Lương Ký Mì Gia, Bồi Ký Mì Gia, Thiệu Ký Mì Gia, Hải Ký Mì Gia, Huê Ký Mì Gia… bằng tiếng Việt kèm tiếng Hoa. Theo tự điển thì Ký có nghĩa là ghi chép, là ghi lại, như nhật ký, bút ký… Nhà báo gọi là ký giả… Tuy nhiên trong trường hợp này, Ký không chỉ là ghi chép. Nó còn có nghĩa là ghi nhớ. Như vậy đặt tên quán có chữ Ký là để thực khách đến ăn và nhớ tên quán của mình. Cho nên trước chữ Ký là tên riêng hoặc từ mang ý nghĩa tốt đẹp. Còn “mì gia” đơn giản là tiệm mì, nhà làm mì, nơi bán mì, mì gia truyền – tức là muốn khẳng định đây là quán mì ngon do quán làm ra, bằng công thức truyền từ đời này sang đời khác. Nhưng từ Ký không chỉ có ở các tiệm bán mì. Nó còn có ở các quán ăn như Chuyên Ký bán cơm thố, Tuyền Ký là quán ăn của người Hẹ; hay Phúc Ký, Phát Ký. Và theo An Chi, người chuyên nghiên cứu chữ nghĩa, thì sau khi tìm hiểu từ những người gốc Hoa, từ Ký lộ ra rất nhiều nghĩa, và hiểu là dấu ấn, nhớ, danh dự, dấu hiệu. Cuối cùng ông An Chi chốt lại cách lý giải khoa học nhất:

“Mathews’ Chinese – English Dictionary đối dịch Ký là “a sign”, “a mark”; và Ký hiệu là trade-mark. Trade-mark, chẳng phải gì khác hơn là nhãn hiệu, thương hiệu. Vậy cái là nghĩa gốc chính xác của chữ Ký trong Tường Ký, Chánh Ký… chẳng qua chỉ là “hiệu”. Chính vì thế nên chủ một số cửa hàng người Hoa mới đặt bảng hiệu bằng một danh ngữ mà “ký” là trung tâm (đứng cuối) còn đứng trước là một trong những chữ dùng làm tên riêng cho cửa hàng” (báo SGGP, ngày 16-8-2016).

Tóm lại chữ Ký trên biển hiệu của các quán ăn người Hoa có nghĩa là quán, là để nhớ đến, là hiệu xem như đã được cầu chứng.


Lại tiếp đến từ Đường ở các tiệm thuốc Bắc hay các nơi bắt mạch, hốt thuốc của người Hoa như Ích Sanh Đường, Hạnh Lâm Đường, Tế Sinh Đường… Chữ Đường vốn trong tiếng Hán là có ý chỉ nhà lớn, phủ quan. Thế nhưng các tiệm thuốc có mang chữ Đường xuất phát từ một chuyện thời xưa ở bên Tàu liên quan một trong những thầy thuốc danh tiếng bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc: Thánh Y Trương Cơ.

Trương Cơ (张机), tự Trọng Cảnh, sinh năm 150 mất năm 219, là thầy thuốc hoạt động vào cuối đời Đông Hán. Ông được xưng tụng là “Thánh y” (医圣) của Đông y. Tác phẩm quan trọng nhất của ông, Thương hàn tạp bệnh luận, tuy đã thất lạc trong giai đoạn Tam Quốc nhưng sau đó được tổng hợp lại thành hai tập sách Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược, là hai trong bốn bộ sách quan trọng nhất của Đông y. Có một thời gian ông đến làm thái thú tại Trường Sa, đúng lúc dân gian đang có dịch thương hàn. Để cứu chữa cho dân, ông vừa làm việc quan vừa chữa bệnh. Và như vậy ông công nhiên phá vỡ giới luật nghiêm ngặt thời phong kiến: ngồi tại công đường kê đơn bốc thuốc cho dân. Ông thường ghi thêm trước tên của mình bốn chữ “tọa đường y sinh” (Wikipedia). Sau này để ghi nhớ công ơn của vị thánh y đầy đức độ và tài giỏi, người ta thường gọi những người ngồi trong nhà thuốc trị bệnh thành “tọa đường y sinh”, tức là người thầy thuốc ngồi ở nhà lớn. Và cũng từ đó, các thầy thuốc Bắc thường cho chữ Đường vào tên nhà thuốc của mình thành một thói quen cho đến nay.



Đến chữ Tự trong tên của các chùa. Tự (寺) là tiếng Hán, theo tự điển giải nghĩa là chùa. Ngày nay chữ này được dùng đứng sau, làm thành tố chính để kết hợp với một từ định danh nào đó, tạo thành cụm danh từ nêu tên gọi một ngôi chùa cụ thể, như Trấn Quốc Tự, Kim Liên Tự, Quang Minh Tự, Bửu Lâm Tự, Vĩnh Nghiêm Tự, Pháp Vân Tự… Và như thế ai cũng hiểu Tự nghĩa là chùa, cho nên người Việt vẫn thường gọi là chùa Trấn Quốc, chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Pháp Vân… Nhưng thật ra trong ngôn ngữ Trung Quốc cổ đại thì nghĩa của Tự không phải là chùa vì Phật giáo mới tiến nhập Trung Quốc từ đầu Công Nguyên, trong khi chữ Hán thì đã có sớm hơn rất nhiều.

Vốn ngày xưa Tự vốn là từ để chỉ cơ quan làm việc cụ thể của bộ máy chính quyền phong kiến. Sách Hán Thư chú: Phàm phủ đình sở tại giai vị chi tự (nói chung nơi làm việc của phủ đình đều gọi là “Tự”). Khang Hy tự điển chú khá rõ điều này: Hán dĩ Thái thường, Quang lộc, Huân vệ úy, Thái bộc, Đình úy, Đại hồng lô, Tông chính, Tư nông, Thiếu phủ vi cửu khanh. Hậu nguy dĩ lai danh tuy nhưng cửu nhi sở lị chi cục vị chi Tự. Nhân danh Cửu tự (đời Hán lấy Thái thường, Quang lộc, Huân vệ úy, Thái bộc, Đình úy, Đại hồng lô, Tông chính, Tư nông, Thiếu phủ làm Cửu khanh. Ngụy trở về sau tuy vẫn để như cũ nhưng các sở cục thì gọi là Tự.

Vì vậy mà thành tên Cửu tự (thay cho Cửu Khanh). Thế tại làm sao từ chỗ làm việc, Tự biến thành nghĩa là chùa? Hán Minh Đế Lưu Trang (25-75CN) là vị vua đầu tiên thừa nhận địa vị Phật giáo ở Trung Quốc. Tương truyền nhà vua nằm mộng thấy “người vàng” bay qua sân điện, bèn sai sứ giả 12 người do Lang Trung Thái Âm dẫn đầu sang Tây Trúc cầu tìm đạo Phật. Đó là sự kiện năm Vĩnh Bình 7 (năm 64 CN). Ba năm sau (năm 67CN), sứ giả về với hai tăng nhân người Ấn Độ cùng rất nhiều kinh sách và tượng Phật được thồ trên lưng ngựa trắng. Lúc các tăng nhân cùng kinh, tượng về đến kinh đô, triều đình chưa chuẩn bị kịp chỗ ở riêng nên cho ở tạm trong Hồng Lô tự (một cơ quan trong Cửu khanh hay Cửu Tự). Sau đó nhà vua mới cho xây dựng cái mà chúng ta gọi là chùa để thờ Phật và các tăng nhân tu tập. Kiến trúc xây dựng theo kiểu mẫu dinh thự của quý tộc đương thời.

Sau đó chùa được xây dựng ngày càng nhiều cũng theo kiểu mẫu nhà ở của địa phương. Chính vì vậy mà chùa ở Trung Quốc, và cả ở Việt Nam khi tiếp nhận Phật giáo theo hướng Trung Quốc, có kiểu chùa rất riêng, không theo quy chuẩn mái cong tháp nhọn như nơi Phật giáo phát nguyên. Nhân vì kinh và tượng Phật được thồ về trên lưng ngựa trắng nên đặt tên chùa là Bạch Mã. Tự là chỗ đầu tiên tăng nhân tạm trú khi đến Trung Quốc nên được chuyển sang làm thành tố chính để gọi tên cho ngôi chùa: Bạch Mã Tự, ngôi chùa Phật giáo đầu tiên của Trung Quốc. Kể từ đó, nơi thờ Phật và để kinh sách cho các đạo hữu tín đồ đến học tập, đọc kinh, nghe thuyết pháp đều có chữ Tự sau tên gọi.


Lại bàn về chữ Kim ở các tiệm vàng. Trước 1975 ở miền Nam, tên tiệm vàng nào cũng có chữ “Kim”. Nó bắt nguồn từ một thương hiệu vàng nổi tiếng ở Việt Nam là vàng lá Kim Thành. Vàng lá Kim Thành là nhãn hiệu vàng thương phẩm nổi tiếng tại vùng Đông Nam Á vào thời kỳ trước 1975, được dùng làm phương tiện trao đổi và cất giữ tài sản. Vàng lá Kim Thành có độ tinh khiết 999,9. Một lượng vàng lá Kim Thành có cân nặng đúng 37,5g (khoảng 1,2 troy ounce), gồm ba lá: hai lá nặng 15g mỗi lá và một lá nặng 7,5 g. Các lá này được bọc chung trong lớp giấy dầu mang nhãn hiệu của nhà sản xuất (Wikipedia).

Kim Thành là nhà buôn bán và tinh chế vàng lớn nhất vào lúc đó, với trụ sở tại Sài Gòn và chi nhánh tại Hà Nội, Hong Kong và Phnom Penh. Vàng lá Kim Thành nổi tiếng như cồn thế cho nên các tiệm buôn vàng bắt chước theo gắn tên “Kim” vào tên hiệu của mình.
Hơn nữa, Kim 金 có nghĩa là Vàng, là kim loại quý có ký hiệu hóa học là Au (L. aurum) và số nguyên tử là 79. Vàng 24K là vàng ròng, không tạp chất. Đặt tên có chữ Kim là tiệm bán vàng tốt, vàng nguyên chất, vàng có uy tín. Ngày trước người ta chỉ dùng một tên, một từ có thể là tên riêng, tên chủ hiệu hoặc một chữ mang ước vọng, mong đợi của chủ nhân kèm với chữ Kim. Ví như Kim Vân, Kim Liên, Kim Phúc, Kim Đức, Kim Phát… Sau năm 1975 hình như truyền thống này có bớt đi nhiều, giờ đây tiệm vàng đặt tên theo ý thích của chủ nhân, cũng chẳng cần kèm theo chữ Kim nữa.


Đỗ Duy Ngọc

https://saigonnhonews.com/article-can-promote/chu-ky-trong-tiem-an-chu-duong-trong-tiem-thuoc-chu-tu-trong-ngoi-chua-va-chu-kim-trong-tiem-vang/

05 tháng 8, 2026

Một phương_Thiện Lê



Lê Thiện là cựu học sinh Trung Học cấp 3 Thống Nhất A ở Hố nai, Biên hòa. Nay định cư ở Mỹ.

Lê Thiên cảm tác bài thơ sau khi đọc bài thơ "Bồi hồi" của Trần-Lâm 
Phát trong VTM # 193

Một phương

Đất khách tuy xa vẫn một phương
Thầy trò hội ngộ giữa yêu thương
Mỗi năm gặp lại cười chung chuyện
Mái tóc theo thời đã điểm sương
Dẫu cách nước nhà tình chẳng nhạt
Còn đây sư đệ nghĩa còn vương
Xin thầy sẻ bớt niềm hiu quạnh
Trò cũ kiên trì giữ cố hương

Lê Thiện


30 tháng 7, 2026

VTM 193_Tha hương_Hàn Thiên Lương

 


Xướng:

Tha hương

Nước non thăm thẳm biệt trùng dương
Giọt nắng tha phương trọn nỗi buồn
Nhớ cảnh chiều tà mờ ngõ trúc
Thương vành trăng khuyết lạnh đêm sương
Ra đi cách biệt càng nhung nhớ
Ngoảnh lại xa xăm mãi tiếc thương
Lặng đứng trên đồi thông vắng vẽ
Ngậm ngùi mắt lệ vọng quê hương

Hàn Thiên Lương


Họa 1:

Bồi hồi

Cách trở nghìn trùng mấy đại dương
Nhìn dòng sông tẻ ngắm sao buồn
Thương về quê cũ đành cam phận
Trông ngóng đêm dài với gió sương
Ly biệt xóm làng càng quyến luyến
Tháng năm xa cách vẫn yêu thương
Đông về tuyết phủ càng hiu quạnh
Ngõ vắng bồi hồi nhớ cố hương

PTL

Họa 2:

Tha hương

Quê cũ xa xăm cách đại dương
Tình luôn thấm đẫm những u buồn.
Mưa sầu hiên vắng ươm chăn chiếu,
Trăng lạnh đêm dài nhuộm gió sương.
Nào muốn đắm chìm muôn nỗi nhớ,
Cũng đành héo hắt vạn niềm thương.
Cành nam mòn mỏi thân chim Việt,
Mắt lệ vương nhòa, vọng cố hương.

Minh Tâm

Họa 3:

Buồn trong kỷ niệm

Tuổi đời vào độ bóng tà dương
Hành giả Tiêu Tương cảm thấy buồn
Quá khứ thu người trong khóm trúc
Đứng nhìn trời đất đẫm hơi sương
Hôm nay tiếc nuối niềm nhung nhớ
Kỷ niệm dâng tràn với luyến thương
Bất động gục đầu nơi vắng vẻ
Mơ màng tơ tưởng một mùi hương

THT

Họa 4:

Vọng Cố Hương

Xa cách nghìn trùng bởi đại dương
Sầu vương én nhạn cánh chim buồn
Bao năm biền biệt dài vô tận 
Viễn khách dặm trường lạnh tuyết sương 
Thắm thoát thời gian như giấc mộng 
Tháng ngày sâu lắng cũng yêu thương 
Xứ người cảnh đẹp như tranh vẽ
Lưu luyến quê nhà vọng cố hương

Hương Lệ Oanh VA
 July, 21. 2026

Họa 5:

Xa quê

Quê nhà cách biệt Thái Bình Dương
Ngõ trúc quanh co tím ngắt buồn
Nhớ mảnh trăng gầy vươn mái tóc
Thương chiều nhạt nắng vạc kêu sương
Tàn đêm nặng trĩu màu ly biệt
Tỉnh giấc đong đầy mộng luyến thương
Lặng ngắm hoàng hôn rơi biển vắng
Xa rồi khói bếp tỏa mùi hương!!!

Nguyễn Cang

Họa 6:

Tình chung

Cách trở từ khi vượt viễn dương
Ngày trông biển vắng gợi đêm buồn
Đường xưa liễu rủ ôm làn trúc
Phố cổ trăng mờ vỗ dáng sương
Bạn ở thầm mong hằn nỗi nhớ
Mình đi vọng ngóng đẫm niềm thương
Chung trời dẫu khác muôn vàn cảnh
Dạ khắc tình chung giữ sắc hương.

Tâm Quã

Họa 7:

Ly hương

Đường đời vạn dặm cách trùng dương,
Gió lạnh trời tây nhuộm sắc buồn.
Cánh nhạn xa bầy mờ lối trúc,
Giọt sầu viễn xứ đẫm làn sương.
Mơ màng chốn cũ niềm nhung nhớ,
Khắc khoải canh dài nỗi xót thương.
Gửi chút lòng thành theo bóng nguyệt,
Hồn nương theo gió hướng quê hương.
AI
Rất vui vì bạn đã yêu thích bài họa này! Chúc bạn và các tác giả trong "Vườn thơ tài tử" luôn giữ mãi ngọn lửa đam mê với thơ ca, cùng nhau chia sẻ thêm nhiều tác phẩm hay và ý nghĩa.
1. Tân nhạc: Kiếp tha hương
Sáng tác: Lam Phương
Ca sĩ: Mạnh Đình












2. Cổ nhạc: Tâm sự tha hương
Soạn giả: Tiểu Ly Ly
Nghệ sĩ: Trang Nguyễn


Ngâm:

Gió bấc về thổi qua khung cửa
Giữa đêm buòn se thắt lòng tôi
Một chút tơ vương sầu viễn xứ
Nhung nhớ quê nhà dạ héo hon...

Câu 1:

Đêm sắp tàn canh nhưng tôi vẫn còn thao thức..
Đôi mắt xa xăm hướng về quê Mẹ nỗi nhớ niềm thương vây kín....tâm...hồn.
Ôi nhớ làm sao hình bóng mẹ hiền..
Nhớ ngày tiễn đưa, Mẹ cầm tay lưu luyến, nước mắt tuôn trào không nỡ xa con.(SL)
Tôi cũng nghẹn ngào không nói được thành câu,
Giây phút chia xa xót dạ đau lòng.
Tôi cố mỉm cười để cho Mẹ an tâm,
Quay bước chân đi dòng châu lã chã. (SL)

Câu 2:

Hoàn cảnh đẩy đưa tôi làm thân viễn xứ,
Bỏ lại sau lưng hạnh phúc riêng mình...
Nặng gánh đôi vai cuộc sống gia đình...
Sáng đi làm thuê đêm về lẻ bóng,
Thui thủi một mình trong gác trọ buồn tênh.
Ai hiểu nổimlofng của kẻ ly hương,(SL)
Khoắc khoải tưng đêm nhớ thương về cố quốc.
Dù ở nơi đây phồn hoa đô thị,
Nhưng vẫn không bằng quê Mẹ bình yên....(SL)


Lý trị an:

Năm tháng qua, xa nhà nhung nhớ Mẹ.
Mà tôi chưa, chưa thể quay về thăm gia đình.
Đời làm thuê đâu có ai được như mong muốn.
Nên bây giờ tôi vẫn còn ở phương trời xa...

Trong trái tim luôn hằn sâu kỷ niệm.
Đời phong ba, nên bước chân còn đang phiêu bồng.
Dù cho tôi, đang ở đâu lòng tôi vẫn nhớ.
Quê hương là nơi cội nguồn mãi không mờ phai...

Câu 5:

Chan chưa trong tôi mảnh đất quê hương có tình thương của Mẹ...
Có đồng lúa mênh mông, có cò bay thẳng cánh trong buổi hàng hôn nắng đã... buông...mành.

Có lục bình trôi trên mặt nước bềnh bồng..
Tuổi còn thơ chưa biết đời gian khó,
Được Cha đỡ đần Mẹ chăm sóc yêu thương.(SL)
Khi lớn khôn rồi tự bươn chải mưu sinh,
Tôi mưới hiểu ra Mẹ Cha nhiều vất vả.
Chưa kịp đền ơn thì Cha không còn nữa,
Còn Mẹ nhưng tôi chữ hiếu vẫn chưa tròn.(SL)

Câu 6:

Xuân đến cận kề một năm nữa trôi qua,
Thêm một mùa xuân lạc loài nơi đất khách.
Ngồi đếm thời gian thấy lòng chua xót,
Tuổi cho phận mình số kiếp long đong.
Biết đến bao giờ tôi trở lại quê hương,
Cùng với người thân sum vầy đón Tết.
Quê Mẹ xuân sang có mai vàng nở rộ,
Còn xuân nơi đây chỉ có nổi buồn.(SL)
Ngoài kia sương lạnh rơi đầy,
Lòng mang tâm sự não nề trắng đêm,
Càng thương Mẹ ở quê nhà, 
Năm tháng mỏi mòn chờ đợi đứa con xa..(SL)