13 tháng 8, 2026

VTM 194_Về thăm quê cũ_PTL

 



Về thăm quê cũ


Đã lâu lắm mới về thăm quê cũ
Lũy tre làng che mát lối vào thôn
Cảnh vật xung quanh quyến luyến bồn chồn
Những kỹ niệm ấu thời như sống lại

Ngôi trường cũ nay không còn tồn tại
Mái nhà tranh đã vụt đổi thay màu
Bước ra vườn ngắm lại mấy hàng cau
Dây trầu đó nhưng không còn sức sống

Hàng tiêu sọ năm xưa đà trống rỗng
Cây nhãn lồng biến mất tự lâu rồi
Mắt đảo quanh chỉ biết nói hỡi ôi
Nay mới hiểu tang điền vi thương hải

PTL

Nhãn lồng là loại cây hoang, trái rất ngọt
Chim quyên ăn trái nhãn lồng (ca dao)


Tang điền vi thương hải là đảo ngữ thương hải vi tang điền  蒼 海 為 桑 田

Ðiển tích:  

Theo Thần Tiên truyện, Vương Phương Bình, người đời Hậu Hán, đỗ Hiếu Liêm, làm quan đến chức Trung Tán Ðại Phu,
Ông từ quan đi tu Tiên, đắc đạo, giáng xuống nhà Thái Kinh,
Ông cho sứ giả mời Tiên Nữ Ma Cô đến.
Phương Bình hỏi Ma Cô về thời gian cách biệt.
Ma Cô nói với Phương Bình rằng: Từ khi biết ông đến nay, đã thấy biển Ðông đã ba lần biến thành ruộng dâu.

https://quangduc.com/a31793/bai-be-nuong-dau

Họa 1:

Nhớ quê

Đêm khuya vắng nhớ về bao chuyện cũ
Giữa thị thành hồn gửi chốn hương thôn
Lá thu phai làm gối mỏi chân chồn
Bao ký ức xa xưa còn giữ lại

Tuổi lão hạc những mong lòng tĩnh tại
Sống bình an giữa thế giới muôn màu
Lòng bâng khuâng nhớ bến nước buồng cau
Làng quê nhỏ hiền hòa xưa đã sống

Nhớ gáo nước bên đường khi bụng rỗng
Tình tương thân chòm xóm đã xưa rồi
Cây khoai mì, củ lá rất thương ôi
Mãi gợi nhớ theo dòng đời hồ hải.

Minh Tâm

Họa 2:

Ngỡ ngàng

Bao năm viễn xứ giờ về xóm cũ
Rảo bước chân đi đến tận cuối thôn
Ôi thấy lòng sao quá lạ bồn chồn
Quê hương ngoảnh mặt cùng người trở lại

Xót xa quá ngỡ ngàng cùng thực tại
Còn gì đâu hình ảnh đẹp phai màu
Đâu mất rồi những nải chuối buồng cau
Giờ làng xóm như không còn sức sống

Tâm hồn chết như nhà hoang trống rỗng
Bước hồi hương giấc mộng vỡ tan rồi
Sao diêu tàn biến đổi thế than ôi
Tuôn nước mắt chạnh lòng người hồ hải

THT

Họa 3:

Cội Nguồn 

Chôn nhau cắt rún nơi quê làng cũ
Cội nguồn xưa tổ phụ ở đầu thôn 
Trầm tư liên tưởng dạ mãi bồn chồn 
Chồng chất nửa trăm năm giờ nghĩ lại 

Chợt nhớ nhà một mai đời hiện tại 
Đã bao phen thay đổi sớm phai màu 
Ngôi nhà xưa sừng sửng cạnh hàng cau 
Thâm tình ấy xa dần trong cuộc sống 

Ngôi trường cũ giờ đây đà trống rỗng 
Xót xa nhìn kỷ niệm mất đâu rồi 
Vật đổi sao dời thế sự than ôi 
Bao mơ ước nay tang điền thương hải 

Hương Lệ Oanh VA 
July, 19. 2026

Họa 4:

Về với Cao nguyên

Vẫn còn nhớ một lần về chốn cũ
Thăm quê nhà dù chỉ ở cô thôn
Nhìn voi rừng chung sống với beo chồn
Cùng cưỡi ngựa vòng quanh làng đi lại

Người bản xứ bằng lòng với hiện tại
Nắng hay mưa cây trái vẫn xanh màu
Như dây trầu quấn chặt lấy thân cau
Dẫu cam khổ bên nhau cần kiệm sống

Nếp văn hóa thực chất không sáo rỗng
Giữa ghét thương nói thẳng với nhau rồi
Vẫn chí tình đùm bọc chẳng hàm ôi
Huynh đệ mãi giữ tình thân tứ hải.

Tâm Quã

Họa 5:

Quê hương bỏ lại

Quê ta đó chưa lần thăm chốn cũ
Kể từ khi khói lửa ngập làng thôn
Nhớ nhà xưa lòng vẫn cứ bồn chồn
Thương cha mẹ tóc pha sương ở lại

Hàng thốt nốt, bến tắm sông, hiện tại
Còn đó không hay canh tác hoa màu
Bóng dừa xanh lã ngọn mấy hàng cau
Hoàng hôn xuống khói lam hòa nhịp sống

Nay bất chợt chiều hanh hao trống rỗng
Quê hương ơi nước mắt cạn khô rồi
Thầy bạn xưa giờ mất dấu than ôi
Đời hư ảo, ai nhớ câu thệ hải ?!!

Nguyễn Cang
July 19, 2026

Họa 6:

Giọt Lệ Cố Hương

Ta trở lại một chiều qua xóm cũ
Đã lâu về nên lạc nẽo cô thôn
Sao xa lạ lòng ta thấy bồn chồn
Xóm nhà xưa giờ nầy xơ xác quá!

Mái trường xưa đã điêu tàng đổ sụp
Ngôi đình làng nắng gió cũng phai màu
Chỉ còn lại xơ xác mấy cây cau
Mồ mẹ tôi u buồn vàng cỏ uá!

Thật đau xót cõi lòng người trở lại
Ôi cố nhân cũng khuất bóng đâu rồi
Cuộc tang hải đau lòng thât…hỡi ơi
Tôi bước đi cõi lòng như mưa gió !

Hàn Thiên Lương
*8-2026** Oregon ** Usa

Họa 7:

Khói tóc cố hương

Sương viễn xứ ngỡ ngàng màu tóc cũ
Lối mòn xưa nay lạc dấu đường thôn
Nghe tiếng lòng viễn xứ luống bồn chồn
Trông cánh én ngỡ mùa xuân trở lại.

Trường yêu dấu mái rêu không tồn tại
Chút tình quê theo nắng úa phai màu
Mưa sụt sùi qua kẽ lá giàn cau
Thương bóng mẹ một đời gom nắng sống.

Hiên vắng ngắt tiếng võng đưa trống rỗng
Khói hoàng hôn loang loáng khuất lâu rồi
Đời phù vân giong ruổi bấy nhiêu... ôi!
Thương bãi bể nương dâu nghìn dặm hải.

AI


Quê hương ơi...

Ta trở về giữa một chiều trở gió

Lối mòn xưa giờ loang lổ dấu xi măng.

Mái tranh nghèo thuở ấy

Trường cũ, vườn cau, gốc nhãn lồng...

Tất cả đã lùi sâu vào dĩ vãng.



Thôi chớ buồn trước bãi bể nương dâu

Khi vạn vật phải thay màu đổi áo.

Trầu dẫu héo và tiêu kia dẫu trống

Nhưng mạch ngầm đất mẹ vẫn nghìn năm.



Những dấu yêu thời thơ dại

Đâu mất đi, chỉ giấu kín trong lòng.

Xin gói lại tiếng "hỡi ôi" tiếc nuối

Để mỉm cười:

Ta vẫn còn một chốn để quay về!

1. Tân nhạc: Tha La xóm đạo

Sáng tác: Dzũng Chinh
Ca sĩ: Hương Lan

Tha La xuất phát từ “Schla” trong tiếng Khmer, có nghĩa là trạm, nơi nghỉ

Xóm đạo Tha La nằm tại xã An Hòa, quận Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh. Tha la nằm bên tay trái của quốc lộ 1 (nay là 22) từ Sài gòn lên Tây ninh.

Xóm đạo này được thành lập vào khoảng năm 1863 dưới sự khuyến khích của người Pháp.

Vũ Anh Khanh viết bài thơ này vào mùa xuân năm 1949 khi về Tây Ninh ăn Tết cùng nhà văn Thẩm Thệ Hà

Đây Tha La xóm đạo
Có trái ngọt cây lành
Tôi về thăm một dạo
Giữa mùa nắng vàng hanh.
Ngậm ngùi Tha La bảo:
- Đây rừng xanh rừng xanh
Bụi đùn quanh ngõ vắng,
Khói đùn quanh nóc tranh.
Gió đùn quanh mây trắng,
Và lửa loạn xây thành.

- Viễn khách ơi!
Hãy dừng chân cho hỏi,
Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng.

Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng,
Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá,
Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ.
Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?
Ai đưa đón?
- Xin thưa, tôi lạc bước!

Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!
Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ,
Nhìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,
Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
Nghìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.
Tha La hỏi:
- Khách buồn nơi đây vắng?
Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!

- Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?
Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn,
Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít.
Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:
Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La!
Bao người đi thề chẳng trở lại nhà.
Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!
Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán,
Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa,
Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa,
Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh.
Khách rùng mình, ngẩn ngơ lòng hiu quạnh.
- Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
Đây mênh mông xóm đạo với rừng già.
Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch,
Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng.
- Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
Nhẹ bảo chàng:
“Em chẳng biết gì ư?
Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!

Người nước Việt ra đi vì nước Việt.
Tha La vắng vì Tha La đã biết,
Thương giống nòi đau đất nước lầm than.”

Trời xa xanh, mây trắng ngoẹn ngàn hàng,
Ngày hiu quạnh. Ờ.. ơ.. hơ tiếng hát.
Buồn như gió lướt lạnh dài đôi khúc nhạc
Tiếng hát rằng:
Tha La giận mùa thu,
Tha La hận quốc thù,
Tha La hờn quốc biến,
Tha La buồn tiếng kiếm,
Não nùng chưa!
Tha La nguyện hy sinh.
Ơ.. ơ.. hơ.. có một đám chiên lành.
Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy.
Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:
Lạy Đức Thánh Cha!
Lạy Đức Thánh Mẹ!
Lạy Đức Thánh Thần!
Chúng con xin về cõi tục để làm dân...

Rồi... cởi trả áo tu.
Rồi... xếp kinh cầu nguyện.
Rồi... nhẹ bước trở về trần...
Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
Người hãy dừng chân.
Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ.
Trời Tha La vần vũ đám mây tan.
Vui gì đâu mà tâm sự?
Buồn làm chi mà bẽ bàng?
Ơ... ơ... hơ... ờ... ơ... hơ... tiếng hát
Rung lành lạnh ngâm trầm đôi khúc nhạc.
Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
Tha La thương người viễn khách đi thôi

Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ,
Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
Lá rừng cao, vàng rụng lá rừng bay...
Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:
- Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
Hãy về thăm xóm đạo
Có trái ngọt cây lành.
Tha La dâng ngàn hoa gạo,
Và suối mát rừng xanh.
Xem đám chiên lành thương áo trắng.
Nghe mùa đổi gió nhớ quanh quanh.




2. Vọng cổ: Thương về quê cũ
Cố Soạn giả: Viễn Châu
Cố Nghệ sĩ: Thành Được



Trong câu 3, soạn giã nói đến "lễ kỳ yên"
Lễ kỳ yên 祈安禮 (kỳ an lễ) đúng tên là lễ kỳ an của người miền Nam. Chữ yên đọc trại âm của chữ an. Đó là lễ tại đình hay miếu để "cầu mong sự bình an". Tùy theo đia phương, đây là lễ tế "Thần Thành Hoàng" lớn nhất trong năm; thường tổ chức vào giữa tháng giêng cho đến tháng 3 Âm lịch. 
Ngoài nghi thức tế lễ, rước thần còn có hát bội.

Nói lối:

Hò..ơ..ơ..ơ...đèn nào cao cho bằng đèn Châu đốc
Gió nào độc bằn gió Gò công
Tháng mười trời đã lập đông
Nhớ miền quê cũ ờ...Hò ... ơ...ớ.. ơ...nước mắt thầm nhỏ tuôn...

Câu 1:

Ai có về quê tôi xin gởi đôi lời thăm hỏi..Dù hai mươi năm làm thân viễn xứ , tôi vẫn còn thương, còn nhớ một...phương...trời.
Thấm thoát bao năm với kỷ niệm xa vời...
Nhớ người Mẹ mái đầu điểm trắng, đang thẩn thờ tựa cửa chờ con.(SL)
Trời sang đông ruộng lúa ngát hương thơm, hoa bưởi hoa cau rụng trắng sân vườn.
Vài tiếng gà xao xác đầu thôn, như nhớ như thương một mối tình viễn xứ...(SL)

Câu 2:

Mẹ ơi! Tình mẫu tử vẫn nặng nề tha thiết, sao con lại ra đi cách biệt mấy phương trời...
Nhớ Mẹ già nua trong kiếp sống đọa đày...
Ai săn sóc Mẹ lúc trời trở gió, khi mớ tuổi già đã chất nặng oằn vai.(SL)
Dưới mái tranh nghèo gió tạt mưa bay, trong xóm nhỏ với chuỗi ngày lao khổ.
Mỗi một mùa xuân trở về bên song cửa, là mỗi một lần suối lệ tràn mi...(SL)

Câu 3:

Nhớ những đêm xuân làng quê mở hội, nhộn nhịp tưng bừng dự lễ kỳ yên.
Lòng gái trai nao nức bâng khuâng, khi tiếng trống đầu thôn vọng đến.
Trên những lối đi lập lòe bầy đom đóm, đang soi đường như kết hội hoa đăng.(SL)
Tiếng sáo diều lơ lửng giữa không trung, như khúc nhạc thanh bình rộn rã.
Ai đã ra đi mới biết đường xa xứ lạ, tại không phút giây hoài vọng chốn quê nhà.(SL)

Lý con sáo:

Ta.. ra đi..(SL). xa cách quê nghèo thân yêu...(SL)
Đời phong trần ngược xuôi.(SL)
Ta lang thang trong gió bụi quê người.(SL)
Thấm thoát mấy xuân rồi.(SL)
Lòng bồi hồi khi trời lên gió đông.(SL)
Như báo tin đến đây một mùa xuân.(SL)
Mà quê nghèo từ khi cách xa.(SL)
Bao nhớ nhung chỉ riêng mình ta...(SL)

Câu 4:

Làm sao quên được những quán hàng của cô gái quê dịu hiền mộc mạc...Bát nước dừa tươi mát lịm cả... tâm...hồn...
Hương vị đồng quê sao thắm thiết êm đềm..
Muối Bạc liêu mặn tình biển cả, mớ than hồng ấm áp mũi Cà mau.(SL)
Ăn gạo Móng chim nhớ ruộng Sóc trăng, đêm ngũ chiếu nhớ lác miền Đồng tháp.
Ôi tình quê hương muôn đời bất diệt, biết làm sao cho cạn ý mong chờ.(SL)

Câu 5:

Nhớ con sông lượn quanh co uốn khúc, nước phù sa rào rạt chảy xuôi dòng...
Bãi mía, nương dâu loáng thoáng tận mây hồng...
Mấy luống cải hoa vàng bát ngát, bắp trổ cờ đón gió múa lộng chiều xuân.(SL)
Đường vào thôn có rặng truc quanh co, trâu đục nắng dưới cội đa già im bóng.
Thuyền ngư phủ nhẹ ngàng lướt sóng, trôi về đâu nơi bến vắng xa mờ.(SL)

Câu 6:

Ôi đẹp nào hơn bằng đẹp của quê hương,
Hồn dân tộc đượm thêm tình đất ước.
Hai mươi năm làm thân lữ khách, nhưng lúc nào tôi cũng nhớ quê hương.
Nhớ mùi lúa non, nhớ tiếng võng đưa, nhớ con rạch nhỏ dưới cầu tre lắc lẻo.
Kìa quê cũ có cây lành trái ngọt, vẫn đón chờ ai đang lạc bước phong trần.(SL)
Sông Hậu giang nối tiếp Tiền giang, mang thương mến khắp nẻo đường đất nước.
Lá thơ cạn ý mong chờ,
Biết đến bao giờ tôi trở lại quê hương.(SL)

10 tháng 8, 2026

Chữ “Ký” trong tiệm ăn_Đỗ Duy Ngọc



Chữ “Ký” trong tiệm ăn, chữ “Đường” trong tiệm thuốc, chữ “Tự” trong ngôi chùa và chữ “Kim” trong tiệm vàng

Thời còn đi học, nhất là mấy năm đầu, bởi vì học ban Việt Hán, có môn Hán Văn nên chịu tìm tòi chữ Hán dữ lắm. Còn nhớ hồi ấy GS Trần Trọng San, người có in sách dịch thơ Đường; và GS Phan Hồng Lạc dạy môn đó. Học Hán Văn thì phải có tự điển. Cuốn Tự điển Hán Việt của tác giả Thiều Chửu là cuốn mà sinh viên nào cũng ráng mua để tra cứu. Trong lớp có mấy bạn là thầy tu Phật giáo từng học chữ Hán trong chùa nên rất giỏi môn này. Tôi nhờ có chút hoa tay nên chỉ được viết chữ đẹp, còn Hán không rộng lắm. Do đó, tôi và vài người bạn thường vào Chợ Lớn, nhìn các bảng hiệu để đoán chữ như là một cách học thêm. Thuộc cho đủ 214 bộ thủ trong chữ Hán là việc không dễ nhưng không thuộc thì khó tiến bộ và tiếp thu rất chậm.

Trong những lần lang thang học chữ như vậy, tôi thắc mắc rằng tại sao tên các tiệm, các quán ăn người Hoa thường có chữ Ký; các tiệm thuốc và chữa bệnh có chữ Đường, chùa chiền thường có chữ Tự, và tiệm vàng có chữ Kim.





Trước hết là chữ Ký. Ở Sài Gòn-Chợ Lớn ta thường bắt gặp nhiều bảng hiệu như Lương Ký Mì Gia, Bồi Ký Mì Gia, Thiệu Ký Mì Gia, Hải Ký Mì Gia, Huê Ký Mì Gia… bằng tiếng Việt kèm tiếng Hoa. Theo tự điển thì Ký có nghĩa là ghi chép, là ghi lại, như nhật ký, bút ký… Nhà báo gọi là ký giả… Tuy nhiên trong trường hợp này, Ký không chỉ là ghi chép. Nó còn có nghĩa là ghi nhớ. Như vậy đặt tên quán có chữ Ký là để thực khách đến ăn và nhớ tên quán của mình. Cho nên trước chữ Ký là tên riêng hoặc từ mang ý nghĩa tốt đẹp. Còn “mì gia” đơn giản là tiệm mì, nhà làm mì, nơi bán mì, mì gia truyền – tức là muốn khẳng định đây là quán mì ngon do quán làm ra, bằng công thức truyền từ đời này sang đời khác. Nhưng từ Ký không chỉ có ở các tiệm bán mì. Nó còn có ở các quán ăn như Chuyên Ký bán cơm thố, Tuyền Ký là quán ăn của người Hẹ; hay Phúc Ký, Phát Ký. Và theo An Chi, người chuyên nghiên cứu chữ nghĩa, thì sau khi tìm hiểu từ những người gốc Hoa, từ Ký lộ ra rất nhiều nghĩa, và hiểu là dấu ấn, nhớ, danh dự, dấu hiệu. Cuối cùng ông An Chi chốt lại cách lý giải khoa học nhất:

“Mathews’ Chinese – English Dictionary đối dịch Ký là “a sign”, “a mark”; và Ký hiệu là trade-mark. Trade-mark, chẳng phải gì khác hơn là nhãn hiệu, thương hiệu. Vậy cái là nghĩa gốc chính xác của chữ Ký trong Tường Ký, Chánh Ký… chẳng qua chỉ là “hiệu”. Chính vì thế nên chủ một số cửa hàng người Hoa mới đặt bảng hiệu bằng một danh ngữ mà “ký” là trung tâm (đứng cuối) còn đứng trước là một trong những chữ dùng làm tên riêng cho cửa hàng” (báo SGGP, ngày 16-8-2016).

Tóm lại chữ Ký trên biển hiệu của các quán ăn người Hoa có nghĩa là quán, là để nhớ đến, là hiệu xem như đã được cầu chứng.


Lại tiếp đến từ Đường ở các tiệm thuốc Bắc hay các nơi bắt mạch, hốt thuốc của người Hoa như Ích Sanh Đường, Hạnh Lâm Đường, Tế Sinh Đường… Chữ Đường vốn trong tiếng Hán là có ý chỉ nhà lớn, phủ quan. Thế nhưng các tiệm thuốc có mang chữ Đường xuất phát từ một chuyện thời xưa ở bên Tàu liên quan một trong những thầy thuốc danh tiếng bậc nhất trong lịch sử Trung Quốc: Thánh Y Trương Cơ.

Trương Cơ (张机), tự Trọng Cảnh, sinh năm 150 mất năm 219, là thầy thuốc hoạt động vào cuối đời Đông Hán. Ông được xưng tụng là “Thánh y” (医圣) của Đông y. Tác phẩm quan trọng nhất của ông, Thương hàn tạp bệnh luận, tuy đã thất lạc trong giai đoạn Tam Quốc nhưng sau đó được tổng hợp lại thành hai tập sách Thương hàn luận và Kim quỹ yếu lược, là hai trong bốn bộ sách quan trọng nhất của Đông y. Có một thời gian ông đến làm thái thú tại Trường Sa, đúng lúc dân gian đang có dịch thương hàn. Để cứu chữa cho dân, ông vừa làm việc quan vừa chữa bệnh. Và như vậy ông công nhiên phá vỡ giới luật nghiêm ngặt thời phong kiến: ngồi tại công đường kê đơn bốc thuốc cho dân. Ông thường ghi thêm trước tên của mình bốn chữ “tọa đường y sinh” (Wikipedia). Sau này để ghi nhớ công ơn của vị thánh y đầy đức độ và tài giỏi, người ta thường gọi những người ngồi trong nhà thuốc trị bệnh thành “tọa đường y sinh”, tức là người thầy thuốc ngồi ở nhà lớn. Và cũng từ đó, các thầy thuốc Bắc thường cho chữ Đường vào tên nhà thuốc của mình thành một thói quen cho đến nay.



Đến chữ Tự trong tên của các chùa. Tự (寺) là tiếng Hán, theo tự điển giải nghĩa là chùa. Ngày nay chữ này được dùng đứng sau, làm thành tố chính để kết hợp với một từ định danh nào đó, tạo thành cụm danh từ nêu tên gọi một ngôi chùa cụ thể, như Trấn Quốc Tự, Kim Liên Tự, Quang Minh Tự, Bửu Lâm Tự, Vĩnh Nghiêm Tự, Pháp Vân Tự… Và như thế ai cũng hiểu Tự nghĩa là chùa, cho nên người Việt vẫn thường gọi là chùa Trấn Quốc, chùa Vĩnh Nghiêm, chùa Pháp Vân… Nhưng thật ra trong ngôn ngữ Trung Quốc cổ đại thì nghĩa của Tự không phải là chùa vì Phật giáo mới tiến nhập Trung Quốc từ đầu Công Nguyên, trong khi chữ Hán thì đã có sớm hơn rất nhiều.

Vốn ngày xưa Tự vốn là từ để chỉ cơ quan làm việc cụ thể của bộ máy chính quyền phong kiến. Sách Hán Thư chú: Phàm phủ đình sở tại giai vị chi tự (nói chung nơi làm việc của phủ đình đều gọi là “Tự”). Khang Hy tự điển chú khá rõ điều này: Hán dĩ Thái thường, Quang lộc, Huân vệ úy, Thái bộc, Đình úy, Đại hồng lô, Tông chính, Tư nông, Thiếu phủ vi cửu khanh. Hậu nguy dĩ lai danh tuy nhưng cửu nhi sở lị chi cục vị chi Tự. Nhân danh Cửu tự (đời Hán lấy Thái thường, Quang lộc, Huân vệ úy, Thái bộc, Đình úy, Đại hồng lô, Tông chính, Tư nông, Thiếu phủ làm Cửu khanh. Ngụy trở về sau tuy vẫn để như cũ nhưng các sở cục thì gọi là Tự.

Vì vậy mà thành tên Cửu tự (thay cho Cửu Khanh). Thế tại làm sao từ chỗ làm việc, Tự biến thành nghĩa là chùa? Hán Minh Đế Lưu Trang (25-75CN) là vị vua đầu tiên thừa nhận địa vị Phật giáo ở Trung Quốc. Tương truyền nhà vua nằm mộng thấy “người vàng” bay qua sân điện, bèn sai sứ giả 12 người do Lang Trung Thái Âm dẫn đầu sang Tây Trúc cầu tìm đạo Phật. Đó là sự kiện năm Vĩnh Bình 7 (năm 64 CN). Ba năm sau (năm 67CN), sứ giả về với hai tăng nhân người Ấn Độ cùng rất nhiều kinh sách và tượng Phật được thồ trên lưng ngựa trắng. Lúc các tăng nhân cùng kinh, tượng về đến kinh đô, triều đình chưa chuẩn bị kịp chỗ ở riêng nên cho ở tạm trong Hồng Lô tự (một cơ quan trong Cửu khanh hay Cửu Tự). Sau đó nhà vua mới cho xây dựng cái mà chúng ta gọi là chùa để thờ Phật và các tăng nhân tu tập. Kiến trúc xây dựng theo kiểu mẫu dinh thự của quý tộc đương thời.

Sau đó chùa được xây dựng ngày càng nhiều cũng theo kiểu mẫu nhà ở của địa phương. Chính vì vậy mà chùa ở Trung Quốc, và cả ở Việt Nam khi tiếp nhận Phật giáo theo hướng Trung Quốc, có kiểu chùa rất riêng, không theo quy chuẩn mái cong tháp nhọn như nơi Phật giáo phát nguyên. Nhân vì kinh và tượng Phật được thồ về trên lưng ngựa trắng nên đặt tên chùa là Bạch Mã. Tự là chỗ đầu tiên tăng nhân tạm trú khi đến Trung Quốc nên được chuyển sang làm thành tố chính để gọi tên cho ngôi chùa: Bạch Mã Tự, ngôi chùa Phật giáo đầu tiên của Trung Quốc. Kể từ đó, nơi thờ Phật và để kinh sách cho các đạo hữu tín đồ đến học tập, đọc kinh, nghe thuyết pháp đều có chữ Tự sau tên gọi.


Lại bàn về chữ Kim ở các tiệm vàng. Trước 1975 ở miền Nam, tên tiệm vàng nào cũng có chữ “Kim”. Nó bắt nguồn từ một thương hiệu vàng nổi tiếng ở Việt Nam là vàng lá Kim Thành. Vàng lá Kim Thành là nhãn hiệu vàng thương phẩm nổi tiếng tại vùng Đông Nam Á vào thời kỳ trước 1975, được dùng làm phương tiện trao đổi và cất giữ tài sản. Vàng lá Kim Thành có độ tinh khiết 999,9. Một lượng vàng lá Kim Thành có cân nặng đúng 37,5g (khoảng 1,2 troy ounce), gồm ba lá: hai lá nặng 15g mỗi lá và một lá nặng 7,5 g. Các lá này được bọc chung trong lớp giấy dầu mang nhãn hiệu của nhà sản xuất (Wikipedia).

Kim Thành là nhà buôn bán và tinh chế vàng lớn nhất vào lúc đó, với trụ sở tại Sài Gòn và chi nhánh tại Hà Nội, Hong Kong và Phnom Penh. Vàng lá Kim Thành nổi tiếng như cồn thế cho nên các tiệm buôn vàng bắt chước theo gắn tên “Kim” vào tên hiệu của mình.
Hơn nữa, Kim 金 có nghĩa là Vàng, là kim loại quý có ký hiệu hóa học là Au (L. aurum) và số nguyên tử là 79. Vàng 24K là vàng ròng, không tạp chất. Đặt tên có chữ Kim là tiệm bán vàng tốt, vàng nguyên chất, vàng có uy tín. Ngày trước người ta chỉ dùng một tên, một từ có thể là tên riêng, tên chủ hiệu hoặc một chữ mang ước vọng, mong đợi của chủ nhân kèm với chữ Kim. Ví như Kim Vân, Kim Liên, Kim Phúc, Kim Đức, Kim Phát… Sau năm 1975 hình như truyền thống này có bớt đi nhiều, giờ đây tiệm vàng đặt tên theo ý thích của chủ nhân, cũng chẳng cần kèm theo chữ Kim nữa.


Đỗ Duy Ngọc

https://saigonnhonews.com/article-can-promote/chu-ky-trong-tiem-an-chu-duong-trong-tiem-thuoc-chu-tu-trong-ngoi-chua-va-chu-kim-trong-tiem-vang/

05 tháng 8, 2026

Một phương_Thiện Lê



Lê Thiện là cựu học sinh Trung Học cấp 3 Thống Nhất A ở Hố nai, Biên hòa. Nay định cư ở Mỹ.

Lê Thiên cảm tác bài thơ sau khi đọc bài thơ "Bồi hồi" của Trần-Lâm 
Phát trong VTM # 193

Một phương

Đất khách tuy xa vẫn một phương
Thầy trò hội ngộ giữa yêu thương
Mỗi năm gặp lại cười chung chuyện
Mái tóc theo thời đã điểm sương
Dẫu cách nước nhà tình chẳng nhạt
Còn đây sư đệ nghĩa còn vương
Xin thầy sẻ bớt niềm hiu quạnh
Trò cũ kiên trì giữ cố hương

Lê Thiện


30 tháng 7, 2026

VTM 193_Tha hương_Hàn Thiên Lương

 


Xướng:

Tha hương

Nước non thăm thẳm biệt trùng dương
Giọt nắng tha phương trọn nỗi buồn
Nhớ cảnh chiều tà mờ ngõ trúc
Thương vành trăng khuyết lạnh đêm sương
Ra đi cách biệt càng nhung nhớ
Ngoảnh lại xa xăm mãi tiếc thương
Lặng đứng trên đồi thông vắng vẽ
Ngậm ngùi mắt lệ vọng quê hương

Hàn Thiên Lương


Họa 1:

Bồi hồi

Cách trở nghìn trùng mấy đại dương
Nhìn dòng sông tẻ ngắm sao buồn
Thương về quê cũ đành cam phận
Trông ngóng đêm dài với gió sương
Ly biệt xóm làng càng quyến luyến
Tháng năm xa cách vẫn yêu thương
Đông về tuyết phủ càng hiu quạnh
Ngõ vắng bồi hồi nhớ cố hương

PTL

Họa 2:

Tha hương

Quê cũ xa xăm cách đại dương
Tình luôn thấm đẫm những u buồn.
Mưa sầu hiên vắng ươm chăn chiếu,
Trăng lạnh đêm dài nhuộm gió sương.
Nào muốn đắm chìm muôn nỗi nhớ,
Cũng đành héo hắt vạn niềm thương.
Cành nam mòn mỏi thân chim Việt,
Mắt lệ vương nhòa, vọng cố hương.

Minh Tâm

Họa 3:

Buồn trong kỷ niệm

Tuổi đời vào độ bóng tà dương
Hành giả Tiêu Tương cảm thấy buồn
Quá khứ thu người trong khóm trúc
Đứng nhìn trời đất đẫm hơi sương
Hôm nay tiếc nuối niềm nhung nhớ
Kỷ niệm dâng tràn với luyến thương
Bất động gục đầu nơi vắng vẻ
Mơ màng tơ tưởng một mùi hương

THT

Họa 4:

Vọng Cố Hương

Xa cách nghìn trùng bởi đại dương
Sầu vương én nhạn cánh chim buồn
Bao năm biền biệt dài vô tận 
Viễn khách dặm trường lạnh tuyết sương 
Thắm thoát thời gian như giấc mộng 
Tháng ngày sâu lắng cũng yêu thương 
Xứ người cảnh đẹp như tranh vẽ
Lưu luyến quê nhà vọng cố hương

Hương Lệ Oanh VA
 July, 21. 2026

Họa 5:

Xa quê

Quê nhà cách biệt Thái Bình Dương
Ngõ trúc quanh co tím ngắt buồn
Nhớ mảnh trăng gầy vươn mái tóc
Thương chiều nhạt nắng vạc kêu sương
Tàn đêm nặng trĩu màu ly biệt
Tỉnh giấc đong đầy mộng luyến thương
Lặng ngắm hoàng hôn rơi biển vắng
Xa rồi khói bếp tỏa mùi hương!!!

Nguyễn Cang

Họa 6:

Tình chung

Cách trở từ khi vượt viễn dương
Ngày trông biển vắng gợi đêm buồn
Đường xưa liễu rủ ôm làn trúc
Phố cổ trăng mờ vỗ dáng sương
Bạn ở thầm mong hằn nỗi nhớ
Mình đi vọng ngóng đẫm niềm thương
Chung trời dẫu khác muôn vàn cảnh
Dạ khắc tình chung giữ sắc hương.

Tâm Quã

Họa 7:

Ly hương

Đường đời vạn dặm cách trùng dương,
Gió lạnh trời tây nhuộm sắc buồn.
Cánh nhạn xa bầy mờ lối trúc,
Giọt sầu viễn xứ đẫm làn sương.
Mơ màng chốn cũ niềm nhung nhớ,
Khắc khoải canh dài nỗi xót thương.
Gửi chút lòng thành theo bóng nguyệt,
Hồn nương theo gió hướng quê hương.
AI
Rất vui vì bạn đã yêu thích bài họa này! Chúc bạn và các tác giả trong "Vườn thơ tài tử" luôn giữ mãi ngọn lửa đam mê với thơ ca, cùng nhau chia sẻ thêm nhiều tác phẩm hay và ý nghĩa.
1. Tân nhạc: Kiếp tha hương
Sáng tác: Lam Phương
Ca sĩ: Mạnh Đình












2. Cổ nhạc: Tâm sự tha hương
Soạn giả: Tiểu Ly Ly
Nghệ sĩ: Trang Nguyễn


Ngâm:

Gió bấc về thổi qua khung cửa
Giữa đêm buòn se thắt lòng tôi
Một chút tơ vương sầu viễn xứ
Nhung nhớ quê nhà dạ héo hon...

Câu 1:

Đêm sắp tàn canh nhưng tôi vẫn còn thao thức..
Đôi mắt xa xăm hướng về quê Mẹ nỗi nhớ niềm thương vây kín....tâm...hồn.
Ôi nhớ làm sao hình bóng mẹ hiền..
Nhớ ngày tiễn đưa, Mẹ cầm tay lưu luyến, nước mắt tuôn trào không nỡ xa con.(SL)
Tôi cũng nghẹn ngào không nói được thành câu,
Giây phút chia xa xót dạ đau lòng.
Tôi cố mỉm cười để cho Mẹ an tâm,
Quay bước chân đi dòng châu lã chã. (SL)

Câu 2:

Hoàn cảnh đẩy đưa tôi làm thân viễn xứ,
Bỏ lại sau lưng hạnh phúc riêng mình...
Nặng gánh đôi vai cuộc sống gia đình...
Sáng đi làm thuê đêm về lẻ bóng,
Thui thủi một mình trong gác trọ buồn tênh.
Ai hiểu nổimlofng của kẻ ly hương,(SL)
Khoắc khoải tưng đêm nhớ thương về cố quốc.
Dù ở nơi đây phồn hoa đô thị,
Nhưng vẫn không bằng quê Mẹ bình yên....(SL)


Lý trị an:

Năm tháng qua, xa nhà nhung nhớ Mẹ.
Mà tôi chưa, chưa thể quay về thăm gia đình.
Đời làm thuê đâu có ai được như mong muốn.
Nên bây giờ tôi vẫn còn ở phương trời xa...

Trong trái tim luôn hằn sâu kỷ niệm.
Đời phong ba, nên bước chân còn đang phiêu bồng.
Dù cho tôi, đang ở đâu lòng tôi vẫn nhớ.
Quê hương là nơi cội nguồn mãi không mờ phai...

Câu 5:

Chan chưa trong tôi mảnh đất quê hương có tình thương của Mẹ...
Có đồng lúa mênh mông, có cò bay thẳng cánh trong buổi hàng hôn nắng đã... buông...mành.

Có lục bình trôi trên mặt nước bềnh bồng..
Tuổi còn thơ chưa biết đời gian khó,
Được Cha đỡ đần Mẹ chăm sóc yêu thương.(SL)
Khi lớn khôn rồi tự bươn chải mưu sinh,
Tôi mưới hiểu ra Mẹ Cha nhiều vất vả.
Chưa kịp đền ơn thì Cha không còn nữa,
Còn Mẹ nhưng tôi chữ hiếu vẫn chưa tròn.(SL)

Câu 6:

Xuân đến cận kề một năm nữa trôi qua,
Thêm một mùa xuân lạc loài nơi đất khách.
Ngồi đếm thời gian thấy lòng chua xót,
Tuổi cho phận mình số kiếp long đong.
Biết đến bao giờ tôi trở lại quê hương,
Cùng với người thân sum vầy đón Tết.
Quê Mẹ xuân sang có mai vàng nở rộ,
Còn xuân nơi đây chỉ có nổi buồn.(SL)
Ngoài kia sương lạnh rơi đầy,
Lòng mang tâm sự não nề trắng đêm,
Càng thương Mẹ ở quê nhà, 
Năm tháng mỏi mòn chờ đợi đứa con xa..(SL)


16 tháng 7, 2026

VTM 192_Bởi Vì Thương_Hương Lệ Oanh VA






Xướng:

Bởi Vì Thương

Họ yêu nhau như tuổi còn thơ dại
Trên đường đời nhiều trở ngại gian lao
Như mùa xuân với vạn đóa hoa đào
Dòng Potomac ngày nao lỗi hẹn

Thì thôi có mấy ai được tròn vẹn
Ở nơi đây mà chẳng thẹn với lòng
Dẫu gì rồi cũng có lần sang sông
Sóng cứ vỗ nhưng lòng ta tĩnh lặng

Bởi vì thương nên nghĩa tình sâu nặng
Trót đã rồi nên quặng thắt lòng đau
Dù thời gian có đổi sắc phai màu
Trong tâm khảm luôn in hình bóng cũ

Trần gian vạn người mấy ai có đủ
Nên dặn lòng ru ngủ giấc mơ hoa
Dù ở nơi đâu cũng vẫn là nhà
Bằng lòng hiện tại cho đời thanh thản

Hương Lệ Oanh VA

Họa 1:

Từ giã

Tuổi đã lớn trãi qua thời khờ dại
Hiểu tấm lòng sư đệ với công lao
Có ngờ đâu cảnh sóng dậy ba đào
Phải từ giã sân trường đành thất hẹn

Không còn nghiệp có chi đâu trọn vẹn
Buộc ra đi với uất ức trong lòng 
Như lái đò đưa khách chửa qua sông
Dưới ánh sáng trăng mờ trong im lặng

Nay vĩnh biệt ngành nghề tình sâu nặng
Xa lớp trường với những nỗi xót đau
Dẫu biết rằng cuộc sống mới thay màu
Tâm tư vẫn hướng về nơi chốn cũ

Nơi đất khách cuộc đời tuy đầy đủ
Không mơ gì đến cuộc sống xa hoa
Cuối tháng tư lại nhớ đến quê nhà
Với tâm khảm chia lìa sao bình thản

PTL


Họa 2:

Duyên lầm

Làm sao biết ai khôn và ai dại
Chớ tưởng rằng đương sự ngại gian lao
Không quan tâm, không tích cực bôn đào
Nào đâu biết hắn nôn nao đến hẹn

Luôn ấp ủ một tình yêu trọn vẹn
Mãi có nhau để chẳng thẹn với lòng
Lời nguyện thề chứng giám bởi dòng sông
Hắn tin tưởng với lòng thành tĩnh lặng

Có đâu biết đã sai lầm quá nặng
Vỡ mộng, sầu đời quặn thẳt lòng đau
Than trách sao tranh đẹp chóng phai màu
Mong tái tạo thời gian hình ảnh cũ

Đến phút cuối niềm tin còn tạm đủ
Cho tuổi già giấc ngủ vẫn nở hoa
Dù đôi chim không ở một mái nhà
Vẫn vui vẻ, sống tà tà bình thản

THT



Họa 3:

Bâng khuâng tuổi hạc

Chiều hiu hắt trên đồi hoa cỏ dại,
Thời gian trôi vun vút tựa tên lao
Mới xuân tươi rạng rỡ những mai đào
Nay thu muộn gió sương dường có hẹn.

Tóc dẫu bạc, tình xưa mong giữ vẹn.
Buổi hoàng hôn cách mặt chẳng xa lòng
Dòng đời đưa thuyền lay lắt trên sông
Mặc trong đục, cầu gió yên sóng lặng

Theo con nước, đôi tay chèo thấm nặng
Sóng xô thuyền chân mỏi lại lưng đau
Mây che trời nắng cũng đã nhạt màu
Lòng lưu luyến ngẩng trông bờ bến cũ

Bao cay đắng ngọt bùi đời nếm đủ
Giờ lại thêm da dẻ trổ đầy hoa
Mộng du sơn ngoạn thủy nước non nhà
Cưỡi hoàng hạc tìm cội nguồn thanh thản...

Minh Tâm

Họa 4:

Tình tuổi mộng

Thủa còn trẻ mấy ai khôn ai dại
Đã yêu rồi ai tính toán công lao
Bao khó khăn chẳng nản cứ bôn đào
Dẫu mưa nắng không một lần trễ hẹn

Sống chân chất tình nồng luôn giữ vẹn
Dẫu đi đâu vẫn thể hiện một lòng
Không ngờ ngày phải giã biệt núi sông
Hai đứa ở hai nơi cùng chết lặng

Xa cách vẫn tình sâu dày nghĩa nặng
Vẫn chung trời dằng dặc một niềm đau
Dẫu chốn xưa điểm hẹn có thay màu
Tình tuổi mộng vẫn in hình dáng cũ

Dẫu thương nhớ không làm sao đắp đủ
Sóng bạc đầu sông núi ngát hương hoa
Mây chiều loang hay khói tỏa quê nhà
Khắc khoải vẫn…Biết bao giờ thanh thản

Tâm Quã
Jul 02, 2026

 1. Tân nhạc: Bởi vì thương

Tác giả: Hương Lệ Oanh VA
Ca sĩ: AI Suno


2. Cổ nhạc: Thương Hoài Ngàn Năm 
Tân nhạc: Phạm Mạnh Cương
Cổ nhạc: Viễn Châu
Nghệ sĩ: Ngọc Diễm

 
Tân Nhạc

Ngàn năm thương hoài một bóng hình ai.
Tình đã khơi rồi mộng khó nhạt phai.
Trăng khuyết rồi có khi đầy.
Ngăn cách rồi cũng xum vầy.
Mây bay bay hoài ngàn năm.
Lòng như con thuyền đỗ bến tình yêu.
Ngại gió mưa nhiều thuyền vẫn còn neo.
Ai đó dù có hững hờ.
Ai đó dù đã âm thầm.
Ra đi… ôm trọn niềm thương.

Vọng Cổ



Câu 1:

Mấy lá tâm thư xin gởi trao ai nơi miền xa xứ lạ.
Buổi ấy chia tay như vầng mây không định hướng khi bóng người đi khuất dạng dưới… sương… mù.
(Hò 16)
Dõi mắt nhìn theo với đôi mắt lệ mờ. (Hò 20)
Hỏi gió gió bay, hỏi hoa hoa rụng,
hỏi bạn tình thì bạn tình đã lạc lõng ngàn phương.
(Xê 24)
Nửa khuya rồi em còn thắp mấy tuần hương, khi nghe từ xa vọng lại tiếng chuông chùa. (Xang 28)
Em nguyện cầu cho chim nhớ rừng xưa, cho kẻ ly hương mau trở về bến cũ. (Cống 32)

Câu 2:

Mấy bận tàn thu mấy mùa lá rụng,
em vẫn buông neo chờ đợi khách giang hồ. (Hò 16)
Hương sắc phôi pha bởi năm tháng đợi chờ.(Hò 20)
Hỡi kẻ ra đi nơi ven trời góc biển,
hướng nẻo quê nhà có thấy lạnh hồn quê.( Xê 24)
Ai nỡ để mình năm tháng phải bơ vơ, nhìn lá rụng ngậm ngùi bao nỗi nhớ. (Xê 28)
Nước chảy mây trôi, gió đùa sóng vỗ,
chẳng xót thương dùm thân phận cánh bèo trôi. (Xang 32)

Tân Nhạc

Thương hoài ôi ngàn năm còn đó.
Đá mòn mà tình có mòn đâu.
Tình đầu là tình cuối người ơi.
Suốt đời mình nguyện cầu lứa đôi.
Thời gian âm thầm như nước về khơi.
Lòng trót yêu người tình khó đổi thay.
Hoa thắm rồi có khi tàn, tình ấy chỉ đến một lần.
Tâm tư thương hoài ngàn năm.

Câu 5:

Nghe tiếng chuông ngân em ngỡ mình đang quỳ nơi chánh điện.
Chắp hai tay âm thầm khấn nguyện cho tâm tư thôi nhớ nhung kỉ niệm buổi… ban… đầu. (Hò 16)
Tóc rối từng đêm rủ rượi trắng canh sầu. (Hò 20)
Hỡi chiếc thuyền đời trôi về nơi vô định, đã đưa người lữ khách dạt về đâu. (Xê 24)
Ngồi một mình lẻ bóng suốt canh thâu, em đọc lại mấy dòng thơ cũ. (Xê 28)
Trong khi anh đang ruổi bước trên nẻo đường mưa gió, như một vầng mây trôi dạt cuối chân trời.(Xề 32)

Câu 6:

Anh đi rồi như lá thu xa rừng thẳm,
như một con thuyền bỏ bến ngược trường giang. (Xang 12)
Có bao giờ anh nhớ tiếng hát môi em, và đêm tao ngộ dưới con đò bên ánh lửa.(Cống 16)
Giờ đây nơi bến cũ chơ vơ cành nghiêng lá đổ, mỏi mắt mong chờ môi nhạt màu son. (Xê 20)
Thu tàn trời sắp sang đông, trời đông ủ dột gió đông lạnh lùng. (Xề 24)
Tiếng sáo mơ hồ ai trỗi khúc thê lương, theo những chiếc lá vàng bay trước gió. (Xê 28)
Anh đi góc biển ven trời,
đâu biết một người thương nhớ đến ngàn năm. (Liu 32)







24 tháng 6, 2026

VTM 191_Bóng tà huy_Nguyễn Cang

 





Xướng:

Bóng tà huy

Rừng chiều xào xạc gió lay
Áo màu trinh nữ mây bay cuối trời
Sáo diều làm động tim côi
Cô liêu một nhánh chợt trôi bất thường
Mộng đời còn mãi tơ vương
Bóng người xa thẳm đoạn trường trong tôi
Chợt nghe lòng những bồi hồi
Phương trời viễn mộng xa xôi khó về !
Nguyễn Cang

Họa 1:
Tuồi Hạc
(Tặng anh trai cùng quê NC thơ diệp khúc)

Đời người tuổi hạc lá lay
Quên quên nhớ nhớ én bay lưng trời
Xuân về lại thấy đơn côi
Than thân trách phận mây trôi vô thường
Đâu còn cái thuở vấn vương
Người anh bạn hữu dặm trường quê tôi
Nhịp tim như trống liên hồi
Bao nhiêu kỷ niệm xa xôi tìm về
Hương Lệ Oanh VA
Jun. 04, 2026

Họa 2:

Giấc mơ tình

Chiều về nắng nhẹ gió lay
Đưa hồn trinh nữ nhẹ bay lưng trời
Lững lờ mang trái tim côi
Trên con thuyền mộng nổi trôi đời thường
Nợ nần còn chút vấn vương
Chuyện tình ngày cũ nơi trường làng tôi
Thúy Kiều Kim Trọng tái hồi
Liên hoan mỹ tửu, chè xôi quên về
THT

Họa 3:

Ước mong


Hiu hiu cành lá lung lay
Nhìn đàn chim én lượn bay khắp trời
Tiếc cho thân phận đơn côi
Giang sơn đã mất nổi trôi thất thường
Còn chi đâu nữa mà vương
Nhớ về quê mẹ đoản trường tim tôi
Ước mong cơ hội phục hồi
Nghìn trùng cách trở xa xôi cũng về
PTL


Họa 4:

Vọng cố tri

Một mình gió tám phương lay
Đưa hồn đa cảm nhẹ bay lưng trời
Trông xa thấm nỗi cút côi
Bạt ngàn dòng ái cuốn trôi mộng thường
Đất lành nở đóa sầu vương
Kết tình trái đắng đêm trường riêng tôi
Thời gian vò võ tưởng hồi
Chừng tri âm ở xa xôi vọng về
Tâm Quã

Họa 5:

Hương xưa

Gió đùa hàng phượng lung lay,
Lá vàng lả tả tung bay khắp trời.
Trông xa một cánh chim côi
Gọi bầy giữa áng mây trôi vô thường.
Giọng ve 
rền rỉ sầu vương
Gợi khơi ký ức mái trường làng tôi.
Đường đời chìm nổi bao hồi
Còn nghe tiếng trống xa xôi vọng về...
Minh Tâm

1.Tân nhạc: Chiều tàn
Sáng tác: Lam Phương
Ca sĩ: Thái Hiền
 










2. Cổ nhạc: Chiều cuối tuần
Tân nhạc: Trúc Phương
Cổ nhạc: Viễn Châu
Nghệ sĩ: Mỹ Vân & Nguyễn văn Khởi



Tân Nhạc
Nữ:
Anh ơi, tôi lên đường phố cũ tìm anh chiều hẹn hò.
Nam
Cho nhau niềm vui cuối tuần, vì hơn mấy lần.
Nữ
Vắng em trời kinh đô nghe xao xuyến bước cô đơn.
Ai quên ai, Khi bàn tay trót nằm trong bàn tay rồi.
Nam:
Em ơi, dù hai chúng mình, mộng xưa khó thành.
Biết nhau chiều hôm nay, xin nhớ mãi về sau... này.

Vọng Cổ

Câu 1:
Nữ:
Tơ liễu sầu ai trước gió bay bay theo mớ tóc mây của người trinh nữ.
Em chờ lâu sao anh chẳng đến để cho lòng em buồn như bóng liễu rũ tơ... sầu.
Em đứng trầm ngâm trông lá rụng bên cầu.
Nam:
Một tuần nữa thêm là một lần lỗi hẹn,
Em để bạn tình chờ đợi bởi vì đâu.
Nữ:
Lá me buồn rơi theo trận gió đầu thu,
chiều bơ vơ sầu lại càng sầu.
Bước ngập ngừng qua lối cũ đường xưa,
bóng nhỏ ngại ngùng trên thềm rêu lá đổ.

Câu 2:

Nam:
Một buổi chờ mong dài bằng thế kỷ,
dòng lệ từ đâu chảy xuống đọng mi buồn.
Nữ:
Chiếc lá vàng thu hiu hắt rụng trên đường,
Nam:
Từng bước lẽ loi giữa một chiều hoang lạnh.
Khi bốn phương trời tắt lịm nắng hoàng hôn,
Nữ:
Tiếng giày khua như đếm nhịp thời gian,
lệ ràn rụa hoen mờ môi mắt biếc.
Nam:
Phố cũ thênh thang sao dạ sầu da diết,
thu đến bao giờ xào xạc lá vàng bay.

Tân Nhạc
Nữ:
Ghi vào đời hình bóng một người.
Nam:
Đôi lúc chân quen giầy khua lối nhỏ.
Nữ:
Tâm tư bâng khuâng nghe chiều biệt ly.
Nam:
Theo khuất nẽo người đi.
Nữ:
Khi tôi đưa chân người tôi mến tạm xa biệt kinh thành.
Nam:
Mong sao đừng quên mỗi lần, chiều qua cuối tuần.
Nữ:
Có tôi đợi trong anh, khi phố cũ vừa lên đèn.

Câu 5:

Nam:
Em ơi tôi như ông lái đò ngồi ngắm nước tràng giang mãi mãi đi không bao giờ trở lại.
Cũng như người bạn tình chung nay đã thành người lữ khách,  đã sang ngang để bến đợi sông... chờ.
Nước mắt cô đơn  nhỏ xuống tự bao giờ.
Nữ:
Cầm chiếc khăn tay thấm dòng dư lệ,
chiều cuối tuần sao trống trải bơ vơ.
Nam:
Thôi rồi tàn một giấc mơ,
Hôm xưa hò hẹn bây giờ lìa nhau.
Nữ:
Cuộc tình như giấc chiêm bao,
Nỗi sầu duyên kiếp nỗi đau duyên mình.

Câu 6:

Nữ:
Anh đi rồi như lá thu xa rừng thẳm,
như còn đò bỏ bến ngược trường giang.
Có bao giờ nhớ tiếng hát môi em,
hay kỷ niệm cũ chôn vùi vào trong dĩ vãng.
Chiều cuối tuần vẫn bơ vơ mình em đứng,
mõi mắt mong chờ môi thắm nhạt màu son.
Mớ tóc em bay tời bời theo bóng liễu,
liễu bâng khuâng mái tóc cũng vương sầu.

Nam:
Anh đứng trên cầu như dòng nước trôi xuôi
như lời hứa hẹn trôi theo sóng nước.
Tơ duyên thẹn tủi cho mình
Bởi quá chân tình nên suốt kiếp bơ vơ.