24 tháng 6, 2026

VTM 191_Bóng tà huy_Nguyễn Cang

 





Xướng:

Bóng tà huy

Rừng chiều xào xạc gió lay
Áo màu trinh nữ mây bay cuối trời
Sáo diều làm động tim côi
Cô liêu một nhánh chợt trôi bất thường
Mộng đời còn mãi tơ vương
Bóng người xa thẳm đoạn trường trong tôi
Chợt nghe lòng những bồi hồi
Phương trời viễn mộng xa xôi khó về !
Nguyễn Cang

Họa 1:
Tuồi Hạc
(Tặng anh trai cùng quê NC thơ diệp khúc)

Đời người tuổi hạc lá lay
Quên quên nhớ nhớ én bay lưng trời
Xuân về lại thấy đơn côi
Than thân trách phận mây trôi vô thường
Đâu còn cái thuở vấn vương
Người anh bạn hữu dặm trường quê tôi
Nhịp tim như trống liên hồi
Bao nhiêu kỷ niệm xa xôi tìm về
Hương Lệ Oanh VA
Jun. 04, 2026

Họa 2:

Giấc mơ tình

Chiều về nắng nhẹ gió lay
Đưa hồn trinh nữ nhẹ bay lưng trời
Lững lờ mang trái tim côi
Trên con thuyền mộng nổi trôi đời thường
Nợ nần còn chút vấn vương
Chuyện tình ngày cũ nơi trường làng tôi
Thúy Kiều Kim Trọng tái hồi
Liên hoan mỹ tửu, chè xôi quên về
THT

Họa 3:

Ước mong


Hiu hiu cành lá lung lay
Nhìn đàn chim én lượn bay khắp trời
Tiếc cho thân phận đơn côi
Giang sơn đã mất nổi trôi thất thường
Còn chi đâu nữa mà vương
Nhớ về quê mẹ đoản trường tim tôi
Ước mong cơ hội phục hồi
Nghìn trùng cách trở xa xôi cũng về
PTL


Họa 4:

Vọng cố tri

Một mình gió tám phương lay
Đưa hồn đa cảm nhẹ bay lưng trời
Trông xa thấm nỗi cút côi
Bạt ngàn dòng ái cuốn trôi mộng thường
Đất lành nở đóa sầu vương
Kết tình trái đắng đêm trường riêng tôi
Thời gian vò võ tưởng hồi
Chừng tri âm ở xa xôi vọng về
Tâm Quã

Họa 5:

Hương xưa

Gió đùa hàng phượng lung lay,
Lá vàng lả tả tung bay khắp trời.
Trông xa một cánh chim côi
Gọi bầy giữa áng mây trôi vô thường.
Giọng ve 
rền rỉ sầu vương
Gợi khơi ký ức mái trường làng tôi.
Đường đời chìm nổi bao hồi
Còn nghe tiếng trống xa xôi vọng về...
Minh Tâm

1.Tân nhạc: Chiều tàn
Sáng tác: Lam Phương
Ca sĩ: Thái Hiền
 










2. Cổ nhạc: Chiều cuối tuần
Tân nhạc: Trúc Phương
Cổ nhạc: Viễn Châu
Nghệ sĩ: Mỹ Vân & Nguyễn văn Khởi



Tân Nhạc
Nữ:
Anh ơi, tôi lên đường phố cũ tìm anh chiều hẹn hò.
Nam
Cho nhau niềm vui cuối tuần, vì hơn mấy lần.
Nữ
Vắng em trời kinh đô nghe xao xuyến bước cô đơn.
Ai quên ai, Khi bàn tay trót nằm trong bàn tay rồi.
Nam:
Em ơi, dù hai chúng mình, mộng xưa khó thành.
Biết nhau chiều hôm nay, xin nhớ mãi về sau... này.

Vọng Cổ

Câu 1:
Nữ:
Tơ liễu sầu ai trước gió bay bay theo mớ tóc mây của người trinh nữ.
Em chờ lâu sao anh chẳng đến để cho lòng em buồn như bóng liễu rũ tơ... sầu.
Em đứng trầm ngâm trông lá rụng bên cầu.
Nam:
Một tuần nữa thêm là một lần lỗi hẹn,
Em để bạn tình chờ đợi bởi vì đâu.
Nữ:
Lá me buồn rơi theo trận gió đầu thu,
chiều bơ vơ sầu lại càng sầu.
Bước ngập ngừng qua lối cũ đường xưa,
bóng nhỏ ngại ngùng trên thềm rêu lá đổ.

Câu 2:

Nam:
Một buổi chờ mong dài bằng thế kỷ,
dòng lệ từ đâu chảy xuống đọng mi buồn.
Nữ:
Chiếc lá vàng thu hiu hắt rụng trên đường,
Nam:
Từng bước lẽ loi giữa một chiều hoang lạnh.
Khi bốn phương trời tắt lịm nắng hoàng hôn,
Nữ:
Tiếng giày khua như đếm nhịp thời gian,
lệ ràn rụa hoen mờ môi mắt biếc.
Nam:
Phố cũ thênh thang sao dạ sầu da diết,
thu đến bao giờ xào xạc lá vàng bay.

Tân Nhạc
Nữ:
Ghi vào đời hình bóng một người.
Nam:
Đôi lúc chân quen giầy khua lối nhỏ.
Nữ:
Tâm tư bâng khuâng nghe chiều biệt ly.
Nam:
Theo khuất nẽo người đi.
Nữ:
Khi tôi đưa chân người tôi mến tạm xa biệt kinh thành.
Nam:
Mong sao đừng quên mỗi lần, chiều qua cuối tuần.
Nữ:
Có tôi đợi trong anh, khi phố cũ vừa lên đèn.

Câu 5:

Nam:
Em ơi tôi như ông lái đò ngồi ngắm nước tràng giang mãi mãi đi không bao giờ trở lại.
Cũng như người bạn tình chung nay đã thành người lữ khách,  đã sang ngang để bến đợi sông... chờ.
Nước mắt cô đơn  nhỏ xuống tự bao giờ.
Nữ:
Cầm chiếc khăn tay thấm dòng dư lệ,
chiều cuối tuần sao trống trải bơ vơ.
Nam:
Thôi rồi tàn một giấc mơ,
Hôm xưa hò hẹn bây giờ lìa nhau.
Nữ:
Cuộc tình như giấc chiêm bao,
Nỗi sầu duyên kiếp nỗi đau duyên mình.

Câu 6:

Nữ:
Anh đi rồi như lá thu xa rừng thẳm,
như còn đò bỏ bến ngược trường giang.
Có bao giờ nhớ tiếng hát môi em,
hay kỷ niệm cũ chôn vùi vào trong dĩ vãng.
Chiều cuối tuần vẫn bơ vơ mình em đứng,
mõi mắt mong chờ môi thắm nhạt màu son.
Mớ tóc em bay tời bời theo bóng liễu,
liễu bâng khuâng mái tóc cũng vương sầu.

Nam:
Anh đứng trên cầu như dòng nước trôi xuôi
như lời hứa hẹn trôi theo sóng nước.
Tơ duyên thẹn tủi cho mình
Bởi quá chân tình nên suốt kiếp bơ vơ.


07 tháng 6, 2026

WORLD CUP 2026 VÀ TRIỂN VỌNG CỦA ĐỘI TUYỂN SOCCEROOS ÚC_Mai Khánh Thư - Phạm Doanh Môn

 



World Cup sẽ khai mạc ngày 12/6/2026 (theo ngày ở Úc). Lễ khai mạc đầu tiên diễn ra tại sân Estadio Azteca ở Mexico City. Vâng chỉ còn vài ngày nữa!

Giải vô địch bóng đá thế giới FIFA World Cup 2026 là một cột mốc đặc biệt trong lịch sử bóng đá thế giới. Đây là kỳ World Cup đầu tiên được tổ chức bởi ba quốc gia đồng chủ nhà là Hoa Kỳ, Canada và Mexico. Đồng thời, giải đấu cũng được mở rộng từ 32 lên 48 đội tuyển tham dự, tạo cơ hội cho nhiều nền bóng đá trên thế giới được góp mặt ở sân chơi lớn nhất hành tinh. World Cup 2026 sẽ diễn ra tại 16 sân vận động thuộc ba quốc gia Bắc Mỹ và được đánh giá là kỳ World Cup có quy mô lớn nhất từ trước đến nay.


Sự mở rộng số lượng đội tuyển mang đến nhiều lợi ích đáng kể. Các liên đoàn bóng đá ở châu Á, châu Phi và khu vực CONCACAF sẽ có thêm suất tham dự, giúp giải đấu trở nên đa dạng và cạnh tranh hơn. Bên cạnh đó, việc tổ chức tại ba quốc gia với cơ sở hạ tầng hiện đại hứa hẹn mang lại trải nghiệm tuyệt vời cho cầu thủ cũng như người hâm mộ trên toàn thế giới.


Một trong những điểm đáng chú ý của World Cup 2026 là sự phát triển mạnh mẽ của bóng đá tại các quốc gia ngoài những cường quốc truyền thống như Brazil, Đức, Argentina, Tây Ban Nha hay Pháp. Trong những năm gần đây, các đội tuyển đến từ châu Á đã có nhiều bước tiến đáng kể. Nhật Bản, Nam Hàn, Úc và một số quốc gia Trung Đông đã chứng minh rằng khoảng cách trình độ với các đội bóng hàng đầu thế giới đang dần được thu hẹp.


Đối với người hâm mộ bóng đá tại Úc, đội tuyển quốc gia Socceroos luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt. Trong nhiều kỳ World Cup gần đây, Socceroos đã cho thấy tinh thần thi đấu kiên cường và khả năng cạnh tranh đáng nể. Thành tích lọt vào vòng 16 đội tại World Cup 2022 ở Qatar là minh chứng rõ ràng cho sự tiến bộ của bóng đá Úc.


Theo quan điểm cá nhân, Socceroos đang sở hữu một thế hệ cầu thủ trẻ giàu tiềm năng cùng lối chơi ngày càng hiện đại. Mặc dù chưa thể được xếp ngang hàng với các ứng cử viên vô địch như Pháp, Argentina hay Tây Ban Nha, nhưng đội tuyển Úc hoàn toàn có khả năng vượt qua vòng bảng nếu duy trì phong độ ổn định. Điểm mạnh của Socceroos nằm ở thể lực sung mãn, tinh thần tập thể cao và sự kỷ luật trong chiến thuật. Đây là những yếu tố giúp họ thường xuyên gây khó khăn cho các đối thủ mạnh hơn.


Là một người đang sinh sống tại Canberra, tôi có thể cảm nhận rõ tình yêu bóng đá ngày càng lớn của người dân Úc. Sự phát triển của A-League, cùng với việc nhiều cầu thủ Úc thi đấu ở châu Âu, đang tạo nền tảng vững chắc cho tương lai của đội tuyển quốc gia. Nếu tiếp tục đầu tư đúng hướng vào công tác đào tạo trẻ, Socceroos hoàn toàn có thể trở thành một thế lực đáng gờm của bóng đá châu Á trong nhiều năm tới.


Tóm lại, World Cup 2026 hứa hẹn sẽ là ngày hội bóng đá lớn nhất từ trước đến nay với quy mô mở rộng và sự tham gia của nhiều đội tuyển hơn. Đối với người hâm mộ tại Úc, đây cũng là cơ hội để kỳ vọng vào một hành trình thành công mới của Socceroos. Với tinh thần chiến đấu đặc trưng và sự tiến bộ liên tục, đội tuyển Úc có quyền mơ về những thành tích cao hơn trên sân khấu bóng đá thế giới.

Chúc đội tuyển Úc sẽ có một kỳ World Cup thành công để cộng đồng người Việt tại Úc cũng có thêm nhiều dịp hòa mình vào không khí bóng đá sôi động.

Úc nằm trong bảng D: United States, Paraguay, Australia, Turkey

"Theo mọi người, Socceroos có thể tiến xa đến đâu tại World Cup 2026?"










Đội tuyển Úc
—-
Cũng có một số dự đoán về những đội vô địch. Theo tôi, nếu các đội giữ được phong độ tốt và không gặp khủng hoảng chấn thương thì:
🥇 Vô địch: France
🥈 Á quân: Argentina
🥉 Hạng ba: Spain
🏅 Hạng tư: Brazil
———-
Nhưng đây chỉ là dự đoán. Tôi cũng thường hay tham gia dự đoán … và có lần “chó ngáp phải ruồi”, năm 2014 đã trúng giải nhất cuộc thi do bán tuần báo Việt Luận tổ chức vì đoán đúng đội Đức vô địch, và được thưởng 200 AUD, vào thời điểm đó cũng đãi bạn bè được vài chục ly cà phê.






——Nhân dịp này, xin được gửi kèm theo một bài viết ngắn về World Cup 2010 trên trang Trung Học Kiến Tường. Cũng xin cám ơn THKT đã đăng bài này.
Tản mạn đôi dòng sau mùa World Cup 2010

Canberra 7/6/2026
Mai Khánh Thư - Phạm Doanh Môn

Note: FIFA World Cup 2026™ chỉ còn vài ngày nữa sẽ chính thức khởi tranh. Tại Úc, SBS sẽ phát sóng ĐỘC QUYỀN trực tiếp và miễn phí toàn bộ 104 trận đấu trên SBS, SBS VICELAND và SBS On Demand: https://www.sbs.com.au/ondemand/fifa-world-cup-2026

29 tháng 5, 2026

In memory of my Mother_PTL

 



In memory of my Mother
On May 10, 1968 (the 14th day of the 4th lunar month), my mother was brutally persecuted by guerrilla forces and passed away suddenly. I was seventeen years old at the time.

Every year when night comes back around
The full moon shines like it knows my name
On the tenth the night my heart broke down
My mother left this world that year
No matter how we cry to heaven
No matter how we curse the pain
A life can turn so unforgiven
And sorrow still remains

My mother taught us right from wrong
She spoke with love, she stood so strong
Who could have thought the cruelest hand?
Would take her from our trembling lives
She was not old, she had more years
More songs to sing, more dreams to hold
She left us here with grief and tears
With half-finished prayers and stories untold

Phat Tran-Lam



27 tháng 5, 2026

VTM_190_Trái đắng_THT

 




Xướng:

Trái đắng

Bà kia chành choẹ lại lanh chanh
Hợm hĩnh, khoe khoan nổ nát bành
Thương cảm ông chồng câm miệng hến
Cố tìm phương án để ngừng phanh
Năm năm khốn đốn lời chanh ớt
Tháng tháng lao đao tiếng tỏi hành
Vui vẻ an phần ôm trái đắng
Ngợi khen tánh nết nhất kinh thành
THT


Họa 1:

Bức tranh quê

Gà trống tìm mồi giữa bụi chanh
Lợn con ủn ỉn nhảy tanh bành
Mục đồng ba đứa chờ mưa rớt
Thôn nữ vài đôi ngại áo phanh
Những lúc rảnh rang bày tiệc rượu
Nhiều khi đắc thắng tỏ quyền hành
Mơ về phố thị đời thay đổi
Mộng ước ai ngờ lại bất thành !
Nguyễn Cang
May, 16, 2026

Họa 2:

Đoan trang

Bếp núc xong rồi ra hái chanh
Tính tình điềm đạm chẳng tam bành
Dù chồng lêu lỏng luôn kiềm chế
Gìn giữ êm nhà không cắt phanh
Bận rộn tháng ngày chăm trẻ nhỏ
Gian lao tứ đức vẫn thi hành
Đoan trang thùy mị không than vãn 
Xây dựng cơ ngơi với chí thành
PTL

Họa 3:

Tình Nồng 

Xứ nóng tình nồng ly đá chanh 
Trưa hè oi bức nổi tam bành 
Đoan trang nhi nữ đừng manh động
Thùy mị công dung phải giử phanh
Chồng nóng vợ lành luôn hạnh phúc
Cơm sôi lửa nhỏ chẳng ai hành
Tiếng đồn tốt đẹp vợ chồng trẻ 
Ai nấy đều khen nhất thị thành 
Hương Lệ Oanh VA
Jun, 5. 2026

Họa 4:

Duyên & nợ 

An phận không màng lẽ ớt chanh
Nín thinh chấp nhận dẫu tanh bành
Đến thời quý mợ… Tha hồ nổ…
Hết vận ông đành… Liệu sức phanh…
Sự thế xoay chiều sao thể cưỡng
Cuộc chơi vốn dĩ cứ song hành
Nợ duyên duyên nợ chừng vay trả
Hết nợ tròn duyên ấy khả thành
TQ

Họa 5:

Ngũ vị trần ai

Ngọt đắng mặn cay chua dấm chanh
Đừng nên nổi nóng phá tanh bành
Thuyền theo con nước năng kềm lái
Xe đổ dốc đèo khá hãm phanh
Dầu chẳng xênh xang vui đĩnh đạc
Cũng đành kham nhẫn giữ an hành
Thế gian nào khác trường thi lớn
Nếm đủ gian nan mới đắc thành
Minh Tâm

1. Tân nhạc: Ru lại câu hò
Sáng tác:Vũ Quốc Việt
Ca sĩ: Phi Nhung & Tường Nguyên






2. Cổ nhạc: Duyên phận
Soạn giả: Tô Trung Kiệt
Tân nhạc: Thái Thịnh
Nghệ sĩ: Vân Nga & Bùi Trung Đẳng






Tân Nhạc
Nam:
Phận là con gái, chưa một lần yêu ai.
Nhìn về tương lai mà thấy như sông rộng đường dài.
Cảnh nhà neo đơn, bầy em chưa lớn trĩu đôi vai gánh nhọc nhằn.

Nữ:
Thầy mẹ thương em nhờ tìm người se duyên.
Lòng cầu mong em đậu bến cho yên một bóng thuyền.
Lứa đôi tình duyên còn chưa lưu luyến.
Sợ người ta đến em khóc sau bao lời khuyên.

Vọng Cổ 

Câu 1:

Chị ơi phận làm con gái như con đò nổi trôi xuôi dòng về bến lạ.
Dẫu quyền quý cao sang, hay phận nghèo hèn hạ chưa bước vào yêu nhưng cũng phải theo... chồng.

Nữ:
Biết làm sao đây bởi là kiếp nhan hồng.
Chốn quê nghèo thương cha mẹ đời cơ cực.
Mấy đứa em nghèo tuổi phận long đong.

Nam:
Chịu nặng vai gầy nắng hạ chiều đông.
Nào biết yêu ai để tơ hồng duyên dai ngẫu.
Thầy mẹ thương được thuyền xuôi bến mộng.
Cậy nhờ mối mai mong chị thành gia thất.

Tân Nhạc

Nữ:
Chưa yêu lần nao biết ra làm sao?
Biết trong tình yêu như thế nào?
Sông sâu là bao nào đo được đâu.
Lòng người ta ai biết có dài lâu?

Nam:
Qua bao thời gian sống trong bình an.
Lỡ yêu người ta gieo trái ngang.
Nông sâu tùy sông làm sao mà trông.
Chưa đổ bến biết nơi nào đục trong.

Câu 2:

Nữ:
Chưa một lần yêu chưa hẹn hò đôi lứa,
thì làm sao nên nghĩa cau trầu.
Thổn thức bao đêm nuốt lệ thương sầu.
Những tháng năm êm đềm bên thầy mẹ.
Dẫu cơ hàn mà nghĩa nặng, tình thâm.

Nam:
Nào hay bến đục bến trong.
Nông sâu ai biết dạ lòng người ta.
Xót thương đời một kiếp hoa.
Về nơi bến lạ quê nhà nặng thương.

Tân Nhạc

Nam:
Rồi người ta đến theo họ hàng đôi bên.
Một ngày nên duyên, một bước em nên người vợ hiền.

Nữ:
Bỏ lại sau lưng bầy em ngơ ngác,
đứng trông theo mắt đượm buồn.

Nam:
Thầy mẹ vui hơn mà lệ tràn rưng rưng,
Dặn dò con yêu phải sống theo gia đạo bên chồng.

Nữ:
Bước qua dòng sông hỏi từng con sóng.
Đời người con gái không muốn yêu ai được không?

Nam:
Bước qua dòng sông hỏi từng con sóng.
Đời người con gái... không muốn yêu ai được không?

Câu 5:

Nữ:
Rồi một sớm sang thu chị theo chồng về bến lạ.
Khoác áo cô dâu cho mẹ thầy yên dạ mà bước chân đi sao trĩu nặng nỗi u... sầu.
Đạo làm con áo mặc sao qua khỏi đầu.

Nam:
Một bước nên duyên thành vợ hiền đâu thảo.
Chị bỏ lại quê nhà đàn em dõi mắt trông theo.

Nữ:
Phận cơ hàn đám em nhỏ nhóc nheo.
Nhìn thầy mẹ rưng rưng thêm bâng khuâng trong dạ.
Giữ lấy phận đâu, công dung ngôn hạnh.
Chị phải sống theo gia đạo bên chồng.

Tân Nhạc

Nữ:
Thầy mẹ vui hơn mà lệ tràn rưng rưng.
Dặn dò con yêu phải sống theo gia đạo bên chồng.
Bước qua dòng sông hỏi từng con sóng.
Đời người con gái không muốn yêu ai được không?

Câu 6:

Nam:
Thuyền dẫu đang trôi cũng về một bến.
Phận gái xưa nay ai cũng phải theo chồng.
Thương chị tôi một kiếp nhan hồng.
Giữ cho trọng đạo đẹp lòng mẹ cha.
Sông dài biển rộng bao la.
Chữ yêu bỏ mặc đó là hồng nhan.




20 tháng 5, 2026

Cựu Học Sinh Trung Học cấp III Thống Nhất A họp mặt năm 2026



Đây là cuộc họp mặt lần thứ 4 của cựu học sinh Trung Học Thống Nhất A tại nhà Bùi Thái Hợp ở California.

Hiện diện có cô Huyền, thầy Phét, thầy Chánh và phu nhân, và cưu học sinh đến từ Đông Tây Nam Bắc của nước Mỹ và châu Âu.

Vợ chồng Bùi Thái Hợp rất vất để tiếp đãi ân cần và chu đáo cho những kỳ họp mặt.

Đặc biệt năm nay Ngô đình Luận làm tấm bảng hình trang sách mở ra để nhớ lại thời còn cấp sách và hình sóng biển để gợi lại những ngày vượt biên trên đại dương.

This was the fourth reunion of alumni from Thong Nhat A High School, held at Bui Thai Hop’s home in California.

In attendance were Ms. Huyen, Mr. Phét, Mr. Chánh and his wife, and alumni from across the United States and Europe.

Bui Thai Hop and his wife went to great lengths to ensure a warm and thoughtful reception for these reunions.

Especially this year, Ngô Đình Luận made a sign shaped like an open book page to remember the days of carrying books in school, and the image of ocean waves to evoke the days of crossing the sea as refugees.


Hội ngộ 2026

Hôm nay tụ về đây cùng chia xẻ
Chuyện tâm tình nửa thế kỷ trôi qua
Gặp thầy cô không quản ngại đường xa
Mặt hớn hở vui mừng khôn tả xiết

Tình bằng hữu bao năm trời ly biệt
Nay tương phùng không thể thốt thành lời
Ly rượu mừng lã chã giọt lệ rơi
Hạnh phúc quá khi hàn huyên đoàn tụ

Nhớ thầy cô với những ngày tháng cũ
Ở xa xôi về dạy ở Hố nai
Thương học trò bất chấp những chông gai
Công sư phụ trọn đời luôn ghi nhớ

PTL
 

2026 Reunion

Today we gather here to share
Heartfelt stories from half a century past
Meeting teachers, regardless of the distance traveled
Faces beaming with indescribable joy

Friendship after years of separation
Now reunited, words fail us
A toast of joy, tears falling freely
Such happiness in this reunion

Remembering our teachers and those days gone by
Coming from afar to teach at Ho Nai
Caring for students despite all hardships
A teacher's devotion, forever remembered

PTL







13 tháng 5, 2026

Nhớ thi sĩ Phạm Thiên Thư_Mai Khánh Thư - Phạm Doanh Môn

Thi sĩ Phạm Thiên Thư vừa rời cõi tạm ngày 7/5/2026 tại Sài Gòn, hưởng thọ 86 tuổi. Tin ông mất khiến nhiều người yêu thơ và âm nhạc Việt Nam bùi ngùi, bởi ông là một trong những thi sĩ mang ý thơ riêng biệt và nhẹ nhàng nhất của văn học miền Nam trước năm 1975.

Thơ ông mang một ý tưởng rất lạ: vừa tha thiết với đời sống, vừa bảng lảng khói sương thiền môn. Có lẽ vì từng có thời gian xuất gia với pháp danh Tuệ Không nên trong thơ ông luôn thấp thoáng tiếng chuông chùa, nỗi buồn vô thường và sự dịu dàng rất Á Đông.

Tên tuổi Phạm Thiên Thư gắn liền với những bài thơ được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc như: “Ngày xưa Hoàng Thị”, “Đưa em tìm động hoa vàng”, “Gọi em là đóa hoa sầu”, “Em lễ chùa này”… Những ca khúc ấy đã đi qua nhiều thế hệ như một miền ký ức đẹp của tuổi trẻ Việt Nam.


Xưa tan trường về
Anh theo Ngọ về
Đôi chân mịt mù
Theo nhau bụi đỏ đường mưa…

Năm 1973, ông đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm: Hậu truyện Kiều - Đoạn Trường Vô Thanh.





Năm 2013, nhờ hai em Trần Ngọc Bách và Nguyễn Thanh Phong, chúng tôi có dịp gặp ông tại quán cà phê Hoa Vàng trên đường Hồng Lĩnh, quận 10. Quán nhỏ, yên tĩnh và mang đúng không khí thơ mộng như chính con người ông.











Hôm ấy, khi được hỏi về nhân vật Hoàng Thị Ngọ trong bài thơ nổi tiếng “Ngày xưa Hoàng Thị”, ông chỉ cười hiền. Ông kể đó là một kỷ niệm học trò rất nhẹ nhàng, khi ông và cô Ngọ học cùng lớp đệ tam ở trường tư thục Kiến Thiết. Những buổi tan trường, cô lặng lẽ đi về còn ông âm thầm theo phía sau trên con đường bụi đỏ. Chỉ vậy thôi, mà đủ để thành thơ.

Giờ đây, người thi sĩ của “động hoa vàng” đã đi xa. Nhưng những câu thơ và giai điệu ông để lại vẫn còn ở đó, như một tiếng chuông chiều ngân rất nhẹ trong ký ức người yêu thơ Việt.

12/5/2026

Mai Khánh Thư - Phạm Doanh Môn

09 tháng 5, 2026

Phạm Thiên Thư, Có Ngần Ấy Thôi_Nguyễn Đức Tùng

 


Phạm Thiên Thư, Có Ngần Ấy Thôi

02-22-2023, 10:25 AM
PHẠM THIÊN THƯ, CÓ NGẦN ẤY THÔI


Nguyễn Đức Tùng


(gởi Hoàng thị Hạnh)



Thơ Phạm Thiên Thư là thơ để ngâm, để hát, là chanson poétique.

Tiếng em hát giữa giáo đường
Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng

Đúng ra, thơ ông có điệu nói lẫn điệu hát.Là tu sĩ Phật giáo nhưng vẫn nhắc đến Chúa: đó là tinh thần tự do của Phạm Thiên Thư. Nhiều người cho rằng thơ ông được phổ biến là nhờ ca khúc do Phạm Duy phổ nhạc, hoặc vì ông là thi sĩ kiêm thiền sư, những cái ấy đều có thể đúng cả, nhưng thơ không hay thì không ai nhớ. Vậy phải có mấy thứ cùng lúc: văn hóa và văn bản. Nhà phê bình Đặng Tiến có một nhận xét thú vị rằng câu “rằng xưa có gã từ quan” là câu thơ được nhớ nhiều nhất. Điều đó quả nhiên đúng, nhưng tôi nghĩ có lẽ vì nó được phổ nhạc, và là câu mở đầu của bài hát. Nếu Phạm Duy chọn câu khác, ví dụ câu thứ nhất của Động hoa vàng “Mười con nhạn trắng về tha,” thì biết đâu câu ấy lại nổi tiếng hơn?
Bạn nói vậy hoá ra câu “rằng xưa” ấy không có giá trị gì? Cũng không phải thế. Đó là câu nghe qua cũng tầm thường, nhưng với lối nói lửng lơ, nhiều hư từ, của người Việt, nó lại gợi ra nhiều thứ. Nó mở ra, mông lung. Bùi Giáng có nhiều câu như vậy. Một chữ thành công phải đúng thời điểm, mở đúng cánh cửa. Mà một cánh cửa chỉ có một người mở. Nhưng trước hết nó phải kết tụ tiếng nói của dân tộc, như một thứ “tổng kết thời đại.” Ở miền Nam ai không thấy cảnh nữ sinh áo dài tha thướt ùa ra cổng giờ tan trường, nhưng phải đến Phạm Thiên Thư, thơ mới bật ra bốn chữ:

Em tan trường về

Cũng một trường hợp khác, ví dụ, Nguyễn Tất Nhiên, với:
Có còn hơn không

Mà ông thường có những câu những chữ như thế. Đây là một ví dụ khác:

Thì thôi mù phố xe đường
Thôi thì thôi nhé đoạn trường thế thôi

Nhiều hư từ. Nhưng trong lần đọc đầu tiên, tôi nhớ liền. Những chữ như thế xưa nay vẫn dùng, nhưng khi kết hợp lại, chúng trở nên mới.
Có ngần ấy thôi

Tất nhiên là từ câu Kiều:
Ái ân ta có ngần này mà thôi

Nhưng tám chữ ấy tuy hay thì hay thật (Nguyễn Du mà không hay?), lại rõ ràng, cay đắng quá. Cắt ra bốn chữ: thành mơ hồ. Cái gì ngắn cũng mơ hồ. Chỉ có một chữ thần tình phải giữ lại, chữ ngần. Chữ ấy được ông dùng tới vài lần nữa. Phạm Thiên Thư láy ca dao:

Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng

Động tác leo trèo là quan trọng nhất, trèo lên cây bưởi hái hoa, chứ không phải chữ, vậy nên thi sĩ đổi phắt chữ trèo trong ca dao thành leo, miễn nó hợp vần. Một câu thơ hay không bao giờ để chúng ta yên. Nó đánh thức người ta như tiếng chuông. Đang ngủ, nó dựng bạn dậy. Ủa, tiếng chuông văng vẳng đâu vậy kìa?

Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ

Có bạn còn tưởng mình đang ở Tô châu, gần chùa Hàn san.
Thì ra sự nối kết của loài người lớn hơn nỗi cô đơn của họ.

Nhà thơ Phạm Thiên Thư lúc còn trẻ chụp trước căn nhà có cây hoa vàng trong khu cù lao Phan Xích Long, Phú Nhuận
(Tự Trung chụp lại từ ảnh riêng của Phạm Thiên Thư)

Tôi cần nhấn mạnh rằng mặc dù tạo ra chữ mới hay tập hợp các chữ mới là một đóng góp của Phạm Thiên Thư, chính khuynh hướng thẩm mỹ của ông, tư duy nghệ thuật của ông, phù hợp với thời đại của mình, mới là nguyên nhân làm cho thơ ông có giá trị lâu dài. Ngay những bài thơ đầy hoài niệm cũng biết lay gọi, đặt câu hỏi. Những câu hỏi kín đáo, xa vời, nhưng ám ảnh. Bài thơ đầu tiên của Phạm Thiên Thư là bài tôi vừa nhắc, “Vết chim bay”:
Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ
Con chim nào qua đó
Còn để dấu chân in
Anh một mình gọi nhỏ
Chim ơi biết đâu tìm
Mười năm anh qua đó
Còn vẫn dấu chân chim
Anh một mình gọi nhỏ
Em ơi biết đâu tìm
Ngày xưa anh đón em
Trên gác chuông chùa nọ
Bây giờ anh qua đó
Còn thấy chữ trong chuông
Anh khoác áo nâu sồng
Em chân trời biền biệt
Tên ai còn tha thiết
Trong tiếng chuông chiều đưa

Ngày xưa em qua đây
Cho tình anh chớm nở
Như chân chim muôn thuở
In mãi bậc thềm rêu
Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng
Còn chi trong giả tướng
Hay một vết chim bay!

Nhịp năm chữ. Bài này được Cung Tiến phổ nhạc, hình như trước Phạm Duy với “Ngày Xưa Hoàng Thị,” nhịp bốn chữ. Nếu là bài thơ đầu tiên thì cũng hợp lý, vì ngôn ngữ mộc mạc, không tài hoa như bài kia. Tuy vậy đã lộ ra phong cách riêng trong những câu như:

Cõi người có bao nhiêu
Mà tình sầu vô lượng

Những chữ như “vô lượng” hay “giả tướng” của nhà Phật lần đầu được đưa vào thơ, mà đưa tài tình. Nghệ thuật của Phạm Thiên Thư nhấn mạnh ở sự lặp lại. Âm nhạc là lặp lại, hay trùng điệp. Trong một bài thơ ngắn, chữ chim xuất hiện năm lần, chữ chuông bốn lần. Trùng điệp (repetition) là thứ dễ nhất mà cũng khó nhất trong nghệ thuật tu từ. Bên cạnh chữ và nhạc điệu, thơ Phạm Thiên Thư có hình ảnh đẹp, nhưng mang tính tượng trưng. Chẳng hạn, hoa trong thơ ông, hoa đào, hoa lan, hoa vàng, cũng nhiều như hoa trong Thơ mới, trong thơ Chế Lan Viên sau này, nhưng chúng hiện hữu như biểu tượng: nhà thơ không mô tả một bông hoa cụ thể; không cảm xúc vì một cái bông riêng biệt nào; chúng xuất hiện như cái phông (background) hay như một đại diện, gây ra các liên kết. Con người khác nhau, cô đơn, nhưng đó chỉ là những quan sát bề mặt, vì từ trong sâu xa họ chỉ là một.

Lần lưng còn một hạt đào
Quyết đem hạt nọ ương vào vườn kia.
Nguyện sau cây lớn xum xuê
Bên đường cho khách đi về nghỉ ngơi.
Nguyện xin trái thẫm hoa tươi
Lợi riêng nhưng để người người hưởng chung.

Bốn câu trên là thơ, hai câu dưới là kệ. Nhờ liên kết trong không gian mà chúng ta có thế giới, nhờ liên kết trong thời gian mà chúng ta có lịch sử. Mối quan hệ giữa tính nghệ thuật và tính thông điệp không phải dễ giải quyết. Trước hết bài thơ phải được bạn yêu mến, sau đó nó mới có thể làm bạn thay đổi. Thơ lục bát là loại thơ có hệ toạ độ, người đọc có thể đóng vai người viết và ngược lại: không có sự khác biệt lắm giữa sáng tạo và thưởng thức. Trong nghi lễ và phong tục, con người trở lại với nhạc điệu, vì vậy mà có hai chữ thơ ca, làm sống lại tình yêu đối với cuộc sống. Thơ Phạm Thiên Thư, cũng như nhiều nhà thơ ở miền Nam thời ấy, sử dụng nhiều thơ có vần. Thực ra, về hình thức, như thế là cũ. Chim chóc, suối, hoa, rừng, cũng là những hình ảnh không có gì mới, nhiều thi nhân đã nói, nhưng đến Phạm Thiên Thư chúng trở thành thiêng liêng.

Lớn lên giữa núi xanh rì
Cỏ hoa như thể tứ chi cận kề

Chữ tứ chi cũng là thần tình. Ẩn dụ là liên kết hình ảnh có tính linh cảm giữa hai sự vật, là hoạt động vô thức, bạn không biết tại sao, có những mạch ngầm bên dưới không hiểu được, những mạch ngầm ấy được chia sẻ bởi nhiều người. Phép ẩn dụ vừa cần mới lạ, gây ngạc nhiên, nhưng cũng phải chừng mực, dễ hiểu. Không những “động hoa vàng” là câu chuyện về “gã” bỏ quan trường về, mà còn là hình ảnh của con người bơ vơ đi tìm nguồn cội. Ẩn dụ của Phạm Thiên Thư lớn, đẹp, hòa hợp với tâm thức người Việt, trong một xã hội loạn lạc.

Ngày xưa áo nhuộm hoàng hôn
Dáng ai cắp rổ lên cồn hái dâu
Tiếng nàng hát vọng đôi câu
Dừng tay viết mướn lòng sầu vẩn vơ
Lều tranh còn ủ chăn mơ
Mối tình là một bài thơ vô đề
Ẩn Lan ơi! Mái tóc thề
Gió Xuân nay có vỗ về suối hương
Đêm nao ngồi học bên tường
Nến leo lét lụi, chữ vương vắt chìm
(Đoạn Trường Vô Thanh)

Thơ tình không tạo ra niềm hy vọng giả dối nào: chúng đều buồn. Vì hầu hết tình yêu sẽ thất bại. Con người chấp nhận thất bại trước số phận nhưng không bỏ cuộc, mà suốt đời săn đuổi ý nghĩa của tồn tại, ý nghĩa của tình yêu, của đau khổ. Một chủ đề thường xuyên của Phạm Thiên Thư là mối quan hệ giữa tình yêu và cái chết, cuộc sống và sự lụi tàn. Xoay quanh chủ đề ấy, phong cách nghệ thuật của ông ngày càng rõ nét.

Hè sang phượng nở
Rồi chẳng gặp nhau
Ôi mối tình đầu
Như đi trên cát
Bước nhẹ mà sâu
Mà cũng nhòa mau
Tưởng đã phai màu
Đường chiều hoa cỏ
Mười năm rồi Ngọ
Tình cờ qua đây
Cây xưa vẫn gầy
Phơi nghiêng ráng đỏ
Áo em ngày nọ
Phai nhạt mấy màu?

Bài thơ nói về sự vô vọng, sự trống rỗng, cuộc trò chuyện giả tưởng giữa hai người. Thực ra chưa phải là tình yêu mà là ước muốn, theo đuổi, tìm kiếm, chia ly, sự im vắng của kỷ niệm được ngôn ngữ bắt giữ, trở thành một thế giới không thể hiểu được, trở thành lời thì thầm độc thoại. Đôi khi bài thơ tựa như cách diễn tả những cảm xúc khác nhau, thăm dò những tình huống trái ngược, nhờ vậy tạo ra đáp ứng ở người đọc. Chủ nghĩa lãng mạn vẫn còn là khuynh hướng lớn của thơ miền Nam thời kỳ Phạm Thiên Thư, bên cạnh khuynh hướng hiện thực và khuynh hướng hiện sinh. Trong khi ở ngoài Bắc cùng thời nó đã bị thay thế bởi chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, thì trong Nam sau một thời gian lùi bước, có sự quay trở lại của phong cách lãng mạn, mà Phạm Thiên Thư là tiêu biểu. Nhưng đó là một chủ nghĩa lãng mạn mới, hiện đại hơn; và tình yêu trong thơ Phạm Thiên Thư cũng pha màu siêu thực, là những thử nghiệm: tình yêu tuổi học trò ở một người đã qua giai đoạn ấy, tình yêu trần tục ở một thiền sư, tình yêu của cổ nhân trong con người hiện đại. Đó là tình trạng hưng cảm kèm với lo âu, lo âu về bản thân mình và về đối tượng hướng tới, bề ngoài gần gũi với thiền, mà bên trong là sự lo lắng. Thực ra:

anh trao vội vàng
chùm hoa mới nở
là những câu phi thời gian. Không còn cũ hay mới. Cũng như:
nhưng mỗi năm mỗi vắng
người thuê viết nay đâu
(Vũ Đình Liên)

Nhiều nhà thơ đương đại tránh xa xúc cảm. Kể ra cũng phải, thế giới ngày nay đòi hỏi một cách biểu hiện khác cho những tình cảm mới, giữa những người sống không quá khứ, không lý tưởng, quay đảo trong cơn lốc của chủ nghĩa tiêu thụ, ngày càng xa nguồn cội. Trong hoàn cảnh ấy, Phạm Thiên Thư là người đại diện cuối cùng của một không khí tiền chiến kéo dài. Kỳ lạ thay, ngay trong chiến tranh, cận kề cái chết, con người có thể sống đẹp như huyễn mộng. Có một cố gắng phối hợp giữa các ý tưởng luân lý hay triết học và sự giản dị có tính thơ ca, nhưng không phải khi nào Phạm Thiên Thư cũng thành công và đạt đến sự hài hòa.

Con ơi con ngủ cho lành
Chắt chiu nguyện ước gửi vành trăng non
Mẹ nghèo còn tấm lòng son
Giờ gieo câu đố, con tròn mộng sau
Thẳng gì hơn những thân cau
Mềm gì hơn những dây trầu leo quanh
(2009)
Tuy vậy, mười bài Đạo ca của ông là một thành tựu xuất sắc, được Phạm Duy phổ nhạc, và nghe nói Thái Thanh thích hát nhất.

Xưa em là kiếp chim
Chết mục trên đường nhỏ
Anh làm cội băng mai
Để tang em, chờ mấy thuở
Xưa em là chữ biếc
Nằm giữa lòng cuốn kinh
Anh là thiền sư buồn
Ngồi tụng dưới ánh trăng

Tình cảm tác giả chất phác, mà ngôn ngữ thì không.
Cái chết không chỉ là sự chấm dứt đời sống mà còn là khởi đầu của một loại thời gian khác. Chúng ta đến đó, gần bờ vực, biết rằng bên kia mọi việc đã thay đổi, có người than khóc, có người kể chuyện, hát những bài hát. Bài Em đi lễ chùa của Phạm Thiên Thư là một trong những bài thơ đặc sắc nói về cái chết. Hình như người kể là một tu sĩ trẻ, và nhân vật nữ là có thật. Nó nhắc tôi nhớ đến bài của Huyền Kiêu:

Hạ đỏ có chàng tới hỏi
Em thơ chị đẹp em đâu
Chị tôi hoa trắng cài đầu
Đi bắt bướm vàng ngoài nội

Tất cả sức nặng của tình yêu, chiều sâu của cái đẹp, sự tiếc nuối, lòng thương xót, quyện vào nhau. Bài thơ là lời ai điếu cho người ra đi, nhưng cũng là tiếng cầu kinh, giúp một linh hồn sớm về cõi khác. Về đâu?

Sao ta biền biệt chưa về
Lưng đồi sim tím bốn bề chim ca

Joseph Huỳnh Văn viết trong tập Động Hoa Vàng: “tìm về cái muôn thuở- muôn nơi cũng có nghĩa là không về đâu cả, nên trong thơ, người thi sĩ biết rõ điều nghịch lý đó, hiểu rằng chỉ còn có cách về, chỉ còn có những lời đẹp cho giấc mộng không bến bờ. Những chữ tìm tới giấc mộng không bến bờ không ràng buộc thường có vẻ đẹp hững hờ đạm bạc.” Thơ Phạm Thiên Thư thực ra có nhiều chữ và cách nói cũ, sáo, chứa một thứ triết lý đạo Phật bình dân; mà ông cũng không cố tỏ ra là bậc chân tu biết nhiều hiểu rộng. Sự việc một thiền sư làm thơ tình và thơ hay đã gây dư luận sôi nổi một thời. Sau Phạm Thiên Thư, hiện tượng ấy không lặp lại. Thơ ông là một thứ thơ thiền nổi loạn. Câu mở đầu của tập Động Hoa Vàng trong đoạn đánh số một:
Mười con nhạn trắng về tha
Như lai thường tụ trên tà áo xuân
Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền
Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm

Thơ thiền mà tình tứ, không những tình tứ mà nhục thể, gợi tình, táo bạo. Độc giả lúc nào cũng thích ăn trái cấm. Nguyễn Du từng dạy: tu là cội phúc, tình là dây oan, nhưng vị thiền sư này làm ngược lại, ông kết hợp hai thứ. Ông nổi tiếng một phần vì vậy. Nhưng ta cần nhớ rằng những tài năng thực sự cao hơn dư luận. Trong khi tác giả nói về tình yêu thì cũng nói về tính nguyên thủy của tạo vật.

Đoạn trường
Sổ gói tên hoa
Xưa là giọt lệ nay là hạt châu

Đây là Đoạn Trường Vô Thanh, ra đời năm 1972, được tặng giải thưởng văn chương toàn quốc 1973. Tác giả viết tiếp Đoạn Trường Tân Thanh, như một tri âm của Nguyễn Du đến sau mấy trăm năm. Mê Kiều đến thế là cùng. Năm 1992, Phạm Thiên Thư viết: “Một đêm nằm mơ, ở đất Tân Bình – gặp Người Đẹp tặng tấm gương soi và cây bút. Tỉnh dậy, mới biết ấp trang Vô Thanh trên ngực mà ngủ quên – Tự nghĩ mặt mày mỗi ngày còn phải rửa lại, huống chi là hư truyện đã viết cách nay trên hai mươi năm – đọc lại lắm chỗ chẳng được như lòng …. Nên đêm nay, khêu đèn dầu hao, tựa mảnh trăng tròn hơn ngoài cửa, mượn Người Đẹp ngọn ý bút, nhuận sắc lại Vô Thanh, cốt để tự soi mình vậy – Nay thêm đôi dòng tạ tội. 21-4-1992.”
Non Hồng núi Tản chim ca
Sông Hà sông Cửu la đà dòng xuôi
Núi sông chiếu diện tinh khôi
Ngọc lên mặt biển, vàng trôi mạch rừng
Mừng Người Trời Đất tưng bừng
Ruộng Lam trâu kéo một vừng long lanh

Những câu thơ cuối nhắc lại niềm mơ ước của thi sĩ: đất nước hòa bình, xã hội thanh bình, thiên hạ thái bình. Phạm Thiên Thư viết rất nhiều thơ trong một giai đoạn ngắn, những năm bảy mươi, điều này làm người đọc khó theo dõi. Tôi liệt kê lại cho những bạn quan tâm:
– Động Hoa Vàng (1970)
– Hội Hoa Đàm (1971)
– Đạo Ca (1972)
– Đoạn Trường Vô Thanh (1972)
– Suối Nguồn Vi Diệu – Kinh thơ (1973)
– Ngày Xưa Người Tình (1974), trong đó có các bài “Ngày Xưa Hoàng Thị” và “Em Lễ Chùa Này.”
– Trại Hoa Đỉnh Đồi (1975)
– Những Lời Thược Dược (2007)
– Hát Ru Việt Sử Thi (2009)

Sau năm 1975 ông ít xuất hiện, thế hệ sau chỉ biết đến ông qua vài ca khúc được Phạm Duy phổ nhạc; nhạc ấy cũng bị cấm phổ biến nhiều năm. Đối với nhiều người khác, thơ ông quá cảm xúc, trong khi thời đại ngày trở nên khách quan, hài hước. Thế giới của ông là một thế giới đẫm vị thiền, phảng phất tình yêu thơ mộng, sầu muộn nhưng không thảm khốc. Tôi nhớ tập thơ Động hoa vàng khổ nhỏ màu vàng trong sáng, do một người bạn gái tặng, có in lời của Thích Minh Châu và bìa sau vẽ minh họa thiền sư Phạm Thiên Thư thật đẹp.
Thời thế thay đổi, chàng thi sĩ của Hoàng thị cởi áo cà sa hoàn tục; người yêu thơ không mấy khi thấy ông nữa. Điều đó chứng tỏ thơ Phạm Thiên Thư cũng như nhạc Phạm Duy là sản phẩm của một hoàn cảnh xã hội, một thứ kỳ hoa dị thảo chỉ nở trong một giai đoạn khi những giấc mơ được phép sống lại, các thế giới được phép giao thoa. Thực ra Phạm Thiên Thư cũng có cố gắng viết theo yêu cầu mới, sau 75, nhưng không được chú ý mấy. Tôi thấy tiêu biểu là mấy bài như sau đây.

Trong lòng đất thâm sâu
Thốt một nhành thược dược
Đóa hoa như giọt nước
Lóng lánh hồn thiên thâu
Từng cánh hồng đan nhau
Xòe những lời bất tận
Lòng đất già lận đận
Ướp thơm những chùm hoa
Hoa nhiệm mầu trong ta
Đất nhiệm mầu trong nụ
Cây dương cầm vũ trụ
Đất góp khúc tình ca
Thược dược hồng môi hát
Gió tơ trời bay đi
Cây đàn tình xanh ngát
Mười ngón đời vân vi
Ai biết đất nói chi
Trong những lời thược dược
Đóa hoa như giọt nước
Lóng lánh hồn thiên thâu
Trên môi nàng ca sĩ
Những cánh tình bay mau
(“Những lời thược dược,” 19-12-1988)
Mai em ra trường
Đi xa dạy học
Hứa dạy trẻ đọc
Trang sử đấu tranh
Của dân tộc mình
Miệng cô xinh xinh
Giảng về cách mạng
Và trên vầng trán
Ngời ánh quang vinh

Em đem bình minh
Về từng mắt trẻ
Anh tưởng tượng thôi
Đã rưng nghẹn lệ
Yêu em vô kể
Cô giáo ngày mai
Con đường tương lai
(“Ngày mai”) (1)

Thơ như thế thì cũng chưa phải là cách mạng lắm. Có lẽ Phạm Thiên Thư giống những trí thức miền Nam trước, ngây thơ, thánh thiện, cũ. Không khí lãng mạn đã chết, thiết chế xã hội nâng đỡ nó không còn, một vài nhà văn vẫn viết nhưng Phạm Thiên Thư gần như đã xong, dù có xuất bản vài tuyển tập khác, và có lần xuất hiện bên cạnh Phạm Duy, trong một chương trình sân khấu rực rỡ.

Vậy, thơ giúp người ta sống cuộc đời mình như thế nào?

Một đêm nằm ngủ trong mây
Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời

Bài thơ tựa như người được đánh thức, giây phút bừng sáng chiếu rọi khắp trang giấy. Bất chấp những ý niệm cũ, những chữ đã được dùng nhiều lần, trở nên mòn sáo, sự quyến rũ của Phạm Thiên Thư vẫn còn đó. Ông nhiều lần nhắc đến hình ảnh từ quan:

này mộng ảo trả về mộng ảo
khăn gói lên, treo ấn từ quan

Một bài thơ hay làm ta thao thức, trở đi trở lại, tự hỏi, đặt ta vào dòng chảy của đời sống. Thơ giải phóng con người khỏi thế giới đầy tin tức, những ứng dụng hữu ích, ở đó con người đầu hàng các phương tiện, trở thành một phần của các phưong tiện ấy. Thơ đi ra từ nhịp điệu vũ trụ, bốn mùa, nhịp điệu cơ thể. Thơ làm cho những kinh nghiệm riêng tư chốc lát trở nên có thể hiểu được và tái lập được. Tái lập là điều quan trọng trong các thí nghiệm khoa học và cũng quan trọng không kém đối với nghệ thuật. Một bài thơ hay mang lại cảm giác tương tự, dù bạn đọc ở đâu, lúc nào. Thơ mang chúng ta vượt qua ranh giới giữa hữu thức và vô thức, giữa quá khứ và hiện tại, giữa người nói và người nghe.

Đầu mùa Xuân cùng em đi lễ
Lễ chùa này – vườn nắng tung bay
Và ngàn lau – vàng màu khép nép
Bãi sông bay – một con bướm đẹp

Cái chết là ngưỡng cửa, không những cho người chết mà còn cho người sống. Người sống mới là nạn nhân của cái chết. Kẻ thương tiếc nhận ra cái bóng của sự chết, như nhìn thấy vực thẳm, chia lìa, đoán trước được nó, và sự tiên đoán ấy làm họ lo âu, khốn khổ.

Trời cuối thu rồi em ở đâu
Nằm trong đất lạnh chắc em sầu
(Đinh Hùng)

Thơ Phạm Thiên Thư khác thế, cũng dẫn người đọc đi qua mất mát, đi qua cái chết ấy, nhưng hồi tưởng mà không sợ hãi. Đó là thơ của sự đau buồn sâu xa nhưng dịu dàng, sự kháng cự số phận theo kiểu khác. Nhà thơ mang lại hình ảnh luân chuyển của sự sống và cái chết, của hạnh phúc và đứt gãy, như nhịp tuần hoàn vũ trụ. Sự lặp lại của các chữ trong thơ khi nói về cái chết chính là sự lặp lại của mùa.

Tàn mùa Đông vào chùa bỡ ngỡ
Tiễn đưa em trong áo quan này
Từng cội hoa – trầm lặng thương nhớ
Tóc em xưa – tơ óng như mây

Bài thơ của Phạm Thiên Thư có đủ bốn mùa xuân hạ thu đông.
Cho đến khi nào chúng ta chấp nhận nó, cái chết, chấp nhận thua cuộc, chúng ta chịu lìa bỏ hạnh phúc tạm bợ trần gian, lúc ấy mới có thể có thức tỉnh. Tuy là một thiền sư, Phạm Thiên Thư không nhắc nhiều đến các lý thuyết Phật giáo, và về mặt này, ông hồn nhiên. Nếu có ý thức làm một tu sĩ, ông sẽ có những câu thơ nặng rao giảng, khuyên nhủ, cũng như trường hợp các thiền sư khác, như thơ Nhất Hạnh. Nhưng thơ không phải là tiếng nói của triết học. Khác với một số nhà thơ đi trước, ông không đẩy tình cảm của mình, yêu ghét, hạnh phúc, đau khổ, lên đến cực điểm. Không có những câu ca ngợi diễm ảo:

Anh nhớ em ngồi đây tóc ngắn
Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh
(Nguyên Sa)

Thơ tình Phạm Thiên Thư cũng không nặng về nhục thể như Bích Khê, không thần bí như Đinh Hùng, không đau đớn như Du Tử Lê, không bất cần như Nguyễn Tất Nhiên. Đó là sự cân bằng giữa thực và ảo, giữa hiện thực và siêu thực, một thứ chủ nghĩa lãng mạn hiện đại. Trong một vài năm ngắn ngủi, Phạm Thiên Thư trung thành với câu chuyện tình yêu của mình. Nhưng có khi ông càng viết, người đẹp của ông càng trở nên một thánh nữ:
Khép mắt ta nhìn em
Thấy hình hài diễm lệ
Đứng trên ngàn sóng bể
Trấn át ngàn phong ba

Hình ảnh ấy không thuyết phục. Tôi e rằng nàng thơ (Muse) của các thi nhân không thích cái gì quá siêu phàm, mà chỉ thích bay la đà mặt đất? Bốn chủ đề: tình yêu, đạo pháp, cái chết và thời gian, thiên nhiên và giấc mơ thái bình. Ngôn ngữ Việt trong thơ ông trở lại với sự trong sáng của thơ có vần, đôi khi như lời hát ru, đôi khi mạch lạc như sự thức tỉnh. Một thứ chủ nghĩa sinh thái nguyên sơ, gần với tôn giáo nguyên thủy.

nền chợ xưa giờ họp lách lau
hỏi cô hàng xén giạt về đâu
đêm đêm bầy đóm xanh từng chiếc
tụ giữa nền hoang nhóm lửa sầu
(“Đom đóm”)

Tình yêu dưới mái hiên chùa là sự táo bạo vừa phải, cũng thách thức xã hội nhưng được dư luận chấp nhận, vì hình như đó chỉ là tình hư ảo. Việc dùng nhiều điển tích hoặc giai thoại cũng là một đặc điểm thú vị.

Ván cờ bày trắng bông đào
Sao lên núi thẳm trăng vào chén không.

Thiên nhiên có mặt thường trực. Dù viết về đề tài gì, thơ ông cũng được đặt vào phong cảnh, cây cối, chim chóc, đất trời, bằng một ngôn ngữ có phần tượng trưng. Không thấy rõ trong thơ các ý thức về xã hội chính trị, thậm chí chiến tranh cũng chỉ hiện ra thấp thoáng. Thế nhưng niềm mơ ước đối với hòa bình ở ông thật lớn. Có ba khái niệm khác nhau: hòa bình là để phân biệt với chiến tranh, không có chiến tranh tức là hòa bình, không có hòa bình tức là chiến tranh. Thanh bình tất nhiên phải có hòa bình nhưng là một tình trạng tốt đẹp hơn, không có xáo trộn, chính sự phiền hà. Nhưng thái bình mới là tình trạng lý tưởng, ngày xưa được hiểu như thời thịnh trị, chính quyền liêm chính, trí thức trong sạch, người dân sống tự do, vui vẻ, lành mạnh. Thơ ông là niềm ao ước về một xã hội thái bình như vậy, lời kêu gọi trở về nguồn cội, đi tìm cái vĩnh viễn trong sự chuyển dời, là lời cầu nguyện dành cho quê hương. Đó là một trong vài chủ đề lớn nhất của Phạm Thiên Thư. Kết thúc trường thi Động Hoa Vàng, tác giả nói lại giấc mơ của mình lần nữa, về non nước cũ.

Mai sau trời đất thái bình
Về lưng núi phượng một mình cuồng ca
Gây dàn thiên lý vàng hoa
Lên non cắt cỏ lợp nhà tụ mây

Phạm Thiên Thư là một trường hợp đặc biệt, về xuất thân và thi pháp. Thơ ông giàu nhạc tính, di chuyển giữa những trầm tư, giấc mộng, độc thoại và đối thoại, ngôn ngữ thơ ấy giản dị nhưng không chất phác, vần điệu cũ nhưng phối hợp chữ rất mới, và ý tứ thoáng đãng, tác động đến người đọc trong mênh mông các liên kết văn hóa. Người đọc về sau còn nhớ đến thơ ông vì đó là suối nguồn trong lành tắm mát cái tôi của họ. Cái tôi trong chủ nghĩa lãng mạn tiền chiến là cái tôi cô độc lẻ loi, với trục tọa độ một chiều, thời gian qua đi không trở lại. Lòng yêu đời là sự khao khát vội vã, tiếc nuối vì thời gian vụt mất, chóng mặt:

Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi
(Xuân Diệu)

Cái tôi trong chủ nghĩa lãng mạn mới như trường hợp Phạm Thiên Thư là cái tôi trở lại với thời gian như những chu kỳ, có sinh có diệt, có được có mất, trong lẽ tuần hoàn. Thấy được như thế nên thi nhân tiếc nuối mà không đau đớn, yêu đương mà không vội vã. Đối với cái chết, cái mất mát, những bi kịch con người, câu trả lời của đạo, của thơ là trở về với uyên nguyên. Nhà thơ có lần tâm sự : “Trước khi viết, tôi ăn chay, nhập thiền, cầu nguyện và viết. Tôi không nghĩ đó là thứ ngôn ngữ của mình mà cảm giác có một phép mê dụ, ảnh tượng vô hình nào đó dụ dẫn. Khi tĩnh tâm đọc lại từng trang thơ, tôi không nghĩ là mình có thể viết được như vậy”. Nhờ những điều kiện xã hội thời ấy, đầu những năm bảy mươi thế kỷ trước ở miền Nam, Phạm Thiên Thư đã viết được một loại thơ phi chính trị, phi lịch sử, “như có một phép mê dụ”. Cõi thơ bát ngát của ông đặt trong bối cảnh loạn lạc ấy vốn đã là một thứ gì siêu thực.

Tường thành cũ phiến bia xưa
Hồn dâu biển gọi trong cờ lau bay
Chiều xanh vòng ngọc trao tay
Tặng nhau khăn lụa cuối ngày ráng pha

Nhà thơ tìm ra tiếng nói của mình trong tự do, tìm thấy căn nhà của mình trong chính ngôn ngữ thơ ca mà ông sáng tạo. Mất ngôn ngữ ấy, mất căn nhà ấy, ông không còn là ông nữa.
Ông chuyển qua làm nghề hốt thuốc chữa bệnh.

Ngày xưa có tục con cầu
Khẩn xin Trời Phật cho đầu thai nhi
Lòng thành như ngọc lưu ly
Làm lành lánh dữ suốt kỳ mang thai

Phạm Thiên Thư chưa bao giờ tỏ ra có ý định làm mới nghệ thuật. Mặc dù trong một cuộc phỏng vấn đâu đó, thi sĩ ngụ ý rằng ông vào chùa là để trốn quân dịch, và quả thật sau 75 cũng đã hoàn tục, nhưng thơ ông thấm đẫm sâu sắc vị đạo, hương thiền. Dòng thơ ấy mở rộng cánh cửa cho mọi người bằng ngôn ngữ nhiều giao tiếp, chính xác, đẹp. Người đọc không cần phân vân suy nghĩ. Đó là loại thơ giả tưởng rằng người đọc và kẻ sáng tạo cùng trong một truyền thống văn hóa. Cũng do đó sức hấp dẫn do tác động liên văn bản là sâu xa. Nhân vật và tác giả đổi chỗ cho nhau. Đừng quên rằng thơ viết trong thời kỳ lửa đạn, vì vậy còn cảm giác thanh bình tạm bợ, giữa sự đứt gãy của chủ nghĩa hiện đại, sự phân rã xã hội, vết thương tình tự dân tộc. Còn lâu Phạm Thiên Thư mới tới gần chủ nghĩa hậu hiện đại, nhưng hoàn cảnh của một xã hội dịch chuyển mang lại cho thơ ông tính chất vô trung tâm, tính rời rạc, không cố định, gần như vô mục đích.

Thơ hôm nay đã đi xa hơn thời của Phạm Thiên Thư, tất nhiên, vì thời đại thay đổi, đa dạng hơn, mặc dù thế người đọc sẽ còn nhớ đến ông, nghe nhạc phổ thơ, đọc lại, vì họ tìm thấy ở đó dấu vết của một đời sống khác, ngôi nhà của một tâm thái khác, không phải chỉ nhớ tiếc mà còn là tham chiếu cho những giá trị hiện tại. Chúng ta chứng kiến sự trở lại trong thơ Việt ngày càng rõ cái tôi trữ tình sau một thời kỳ dài vắng mặt trước các hồi ký, tiểu thuyết, trường ca, thơ phản ảnh hiện thực nông cạn, lời kêu gọi; cái tôi này sẽ làm nên giọng điệu chính của thơ hôm nay, và không phải là không có một mối liên hệ ngấm ngầm nhưng sâu sắc giữa nó và thơ thời kỳ những năm sáu mươi bảy mươi ở miền Nam. Sau mỗi khúc quanh, thơ hình thành một dòng chảy mới, mang theo nó những yếu tố nhận được từ gia tài quá khứ. Việc nhớ lại Phạm Thiên Thư chỉ bằng một vài ca khúc là điều đáng tiếc, người đọc thơ cần đọc ông nhiều hơn, một trong những nhà thơ quan trọng của nền văn học chiến tranh mà ở ngoài chiến tranh. Thơ Phạm Thiên Thư không mới lắm, mà có lẽ ông cũng không có ý định làm mới, nhưng trước ông và sau ông, chẳng ai viết thế. So với nhiều nhà thơ cùng thời, những thành tựu của ông khó nắm bắt hơn, khi miền Nam phải đối diện với những vấn đề lớn như chiến tranh, hỗn loạn. Đó là tiếng hót của loài chim quý, tiếng hót ngắn ngủi, cuối cùng, ngân lên trong những ngày cuối, vì vậy mà buồn đau, ngọt ngào, thương xót. Cùng thời với Phạm Thiên Thư là Du Tử Lê; cả hai đều viết thơ tình. Cần nhớ rằng trong suốt một thời gian dài thơ miền Nam chính yếu không phải là thơ tình, mà là thơ về thân phận, quê hương, chiến tranh. Sau những năm thanh bình đầu tiên thời Đệ nhất Cộng hòa, của “Mùa thu Paris,” “Áo lụa Hà đông,” thơ chỉ còn là dằn vặt khôn nguôi về số phận, đất nước, nội chiến. Không phải tình cờ mà ông và Du Tử Lê cùng được trao giải thưởng văn chương toàn quốc VNCH năm 1973, về bộ môn thơ (chính xác là Du Tử Lê về thơ, Phạm Thiên Thư về trường thi). Nếu tôi không lầm, đây là giải thưởng toàn quốc cuối cùng. Như điềm báo hiệu:

Cuối xuân ta lại tìm qua
Tiểu thư chi mộ thềm hoa dại tàn
Sớm thu ta đánh đò sang
Bên đường cỏ mộ lại vàng cúc hoa

Thân xác của người nữ hay của giấc mơ tự do?

Thơ Phạm Thiên Thư còn là lời tri ân đối với đời sống. Nhớ lại tức là sống, quên đi tức là kết thúc. Khi một người chết đi, không được ai nhớ lại, đó là biến mất vĩnh viễn. Khi một người chết đi, được người khác nhắc lại, đó là lúc người ấy trở về. Không cách nhớ nào đẹp bằng cách nhớ của thơ ca. Vì ký ức ấy là ký ức bền vững, chưng cất, thăng hoa. Chúng ta nhớ lại một người tình, một quãng đời, một xã hội, một bài thơ, hầu hết là vì ân huệ mà người ấy, quãng đời ấy, nguồn thơ ấy, bầu khí quyển ấy, trong đó ta hít thở như khí trời, đã từng ban tặng cho ta.

Nguyễn Đức Tùng

______________________________________
Nguồn tham khảo:
(1) Toàn bài “Ngày Mai Phạm Thiên Thư, Ngày Xưa Người Tình,” NXB Văn nghệ, 2006.
(2)
Tiểu sử:
“Phạm Thiên Thư tên thật là Phạm Kim Long, sinh ngày 1-1-1940 xuất thân trong một gia đình Đông y. Quê cha: xã Đình Phùng, Kiến Xương, Thái Bình. Quê mẹ: xã Trung Mẫu, Từ Sơn, Bắc Ninh. Sinh quán: Lạc Viên, Hải Phòng. Trú quán: Trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương (1943-1951), Sài Gòn – Tp.Hồ Chí Minh (1954 đến nay).
Từ 1964-1973: Tu sĩ Phật giáo, làm thơ. Năm 1973, đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu Kiều – Đoạn trường vô thanh. Năm 1973-2000: Nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn Dưỡng sinh Điển công Phathata (viết tắt chữ Pháp-Thân-Tâm).
Tác phẩm đã in: Thơ Phạm Thiên Thư (1968); Kinh Ngọc (thi hoá Kinh Kim Cương); Động Hoa Vàng (thơ, 1971); Đạo ca (Nhạc Phạm Duy); Hậu Kiều – Đoạn Trường Vô Thanh (1972); Kinh Thơ …
(3) Đặng Tiến, “Ngày xuân tìm động hoa vàng”
(4) Vĩnh Hảo, “Đọc thơ Phạm Thiên Thư”

Tags: None

Nhà Thơ Phạm Thiên Thư _Hương Lệ Oanh VA

 




Nhà Thơ Phạm Thiên Thư (1940-2026)
Từ trần vào lúc 16g15 phút ngày 7- 5-2026 tại nhà riêng VN
Hình ảnh những cuộc gặp gỡ năm 2016 cùng 3 người bạn Julie Le - Ngân Triều - Việt Yến Lê
Ông tặng tôi 3 tập thơ do ông sáng tác

Được biết đến ông, qua những ca khúc Phạm Duy phổ nhạc như:


Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng 
Em Lễ Chùa Này 
Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu 
Pháp Thân 
Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ


Nhưng phổ biến nhất trong một giai đoạn, vẫn là Ngày xưa Hoàng Thị được Phạm Duy phổ nhạc những giai điệu da diết và bất tử.

Xưa tan trường về
Anh theo Ngọ về
Xưa tan trường về
Anh theo Ngọ về
Đôi chân mịt mù
Theo nhau bụi đỏ đường mưa.

Thi sĩ Phật giáo Phạm Thiên Thư cũng để lại những tác phẩm độc đáo thi hóa kinh Phật, chẳng hạn như bộ Kinh Hiền Ngu (Damamuka Nidana Sutra), với 12.000 câu thơ lục bát, có một không hai trong thi ca Việt Nam. Danh mục thi hóa kinh của ông còn có như Kinh Ngọc (Kinh Kim Cương), Kinh Thơ (Kinh Pháp Cú)...

Ca ngợi nội dung và ngôn từ trong Kinh Hiền Ngu, Hòa thượng Thích Giác Toàn có viết "Qua những vần thơ hay tác giả đã khéo léo đưa tư tưởng Phật giáo vào tác phẩm của mình: Khổ, không, vô ngã… Tôi nghĩ đây là tác phẩm về Đạo và đời xoa dịu những nổi khổ đau để khuyến khích người ta đi tiếp đường đời với tâm tự tại trong chữ Không…!

Năm 1964 xuất gia pháp danh là Tuệ Không, (1964-1973) hoàn tục nên có kiến thức khá thâm thúy về đạo Phật. Ông được coi là "người thi hóa kinh Phật" (dịch kinh Phật ra thơ) và là tác giả của nhiều bài thơ phảng phất triết lý mà ông đã tin theo.

- Năm 1973, ông đoạt giải nhất văn chương toàn quốc với tác phẩm Hậu truyện Kiều-Đoạn trường Vô Thanh

- Năm 1973-2000: Nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn dưỡng sinh Điện công Phathata (viết tắt chữ Pháp-Thân–Tâm)..

Theo ông, Hoàng Thị Ngọ trong bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị” chỉ là kỷ niệm, một mối tình thoảng nhẹ vu vơ thời học trò! Trong những năm Tú tài ông đã để ý một cô bạn học cùng lớp tên là Hoàng Thị Ngọ cô gái đó quê gốc Hải Dương và ở gần nhà ông. Sau này Phạm Thiên Thư tìm lại cố nhân nhưng người hàng xóm cho biết bà Ngọ đã bán nhà và dọn đi nơi khác từ lâu.

Ngày ấy, mỗi khi xếp hàng vào lớp, cô gái đứng ở đầu hàng bên nữ, nổi bật, mái tóc dài xoã trên bờ vai lặng lẽ ngắm nhìn. Khi tan trường cô gái một mình trên đường về ông lẽo đẽo theo sau: “Cô ấy ôm cặp đi trước tôi đi theo nhưng không dám lên tiếng. Trong bóng chiều tà, ánh nắng hắt qua hàng cây, cô ấy lặng lẽ bước, gây cho tôi những cảm xúc bâng khuâng! Cứ thế tôi lặng lẽ theo sau hàng ngày giấu kín những cảm xúc của mình không cho bất cứ ai biết”. Và một lần đắm chìm trong cảm xúc ấy, ông đã cầm bút viết lên bài thơ “Ngày xưa Hoàng Thị”.

Những năm sau này, mỗi khi đi ngang lại con đường của một thuở yêu đương, hình ảnh cô gái với mái tóc xoã ngang vai lại hiện về trong ông:

“Em tan trường về.
Đường mưa nho nhỏ.
Chim non giấu mỏ.
Dưới cội hoa vàng..”

Giờ đây, Hoàng Thị Ngọ đã định cư ở Mỹ. Hơn 50 năm, nơi phương trời xa xôi ấy, cô nữ sinh có còn nhớ…
“…Tìm xưa quẩn quanh
Ai mang bụi đỏ
Dáng em nho nhỏ
Trong cõi xa vời
Tình ơi ! Tình ơi !”

Nhà thơ Phạm Thiên Thư, người đã thi hóa Kinh Phật, ông xuất hiện trong làng thơ như một người tu sĩ, giảng Phật Pháp bằng thi ca như Kinh Ngọc, Kinh Hiền, Kinh Thơ,


Hương Lệ Oanh VA

08 tháng 5, 2026

Áo Trắng Ngày Xưa_Nguyễn Cang

 




Nghe gió thoảng tiếng học trò tan học
Một hồi chuông từng tốp bước chân mau
Mặt vui tươi hớn hở vẫy tay chào
Như có tiếng ve sầu kêu thê thiết

Khung cửa lớp tiễn người đi biền biệt
Nhớ một thời cắp sách ở quê hương
Bạn thân yêu rảo bước ở cuối đường
Vui biết mấy những ngày xưa thân ái

Mái trường cũ rêu phong màu cỏ dại
Áo` trắng thơ ngây tóc xỏa bờ vai
Ngẫn ngơ lòng, nghiêng ngả những chàng trai
Chiều cuối hạ tiếng ve sầu tha thiết

Từng cánh phượng bay bay chào tiễn biệt
Giờ chia tay còn biết nói năng gì
Thư muốn trao nhưng ái ngại điều chi
Đầu năm tới biết có còn gặp lại

Vết thương lòng giờ vẫn còn tê tái
Trang sách xưa còn kẹp lá thư tay
Áo trắng thơ ngây mực tím chưa phai
Hoàng hôn xuống mưa rơi tràn mi mắt

Ta về đây giữa khung trời tím ngắt
Nghe tâm tư nặng trĩu mối tình quê
Trường còn đây áo trắng lạc cung mê?
Bạn học cũ bây giờ tìm đâu thấy

Có đứa chết trận từ mùa Thu ấy
Có đứa ra khơi chẳng báo tin về
Ta ngồi nghe gió lạnh rớt lê thê
Đời hư ảo cõi thiên thu bất tận

Cuộc dâu bể gặp nhau là số phận
Mắt rưng rưng nhắc lại mái trường xưa
Chiều hanh hao nắng tắt cánh rừng dừa
Xin giã biệt bạn bè xưa thân mến!!!
Nguyễn Cang
May 5, 2026