Vịnh trăng
Đĩa vàng lơ lửng giữa lưng trời.
Soi sáng đêm dài chẳng để rơi.
Vạn thuở trần gian yêu dáng ngọc,
Ngàn năm thi sĩ ướp hương đời.
Đổi thay khi tỏ rồi khi nhạt,
Xoay chuyển lúc đầy lại lúc vơi.
Chú cuội lạc đường lên chốn ấy,
Mỏi mòn ngồi dựa gốc đa chơi.
Minh Tâm
Viễn xứ liềm trăng ở cuối trời
Một mình thoáng nhớ chợt hồn rơi
Khuyết đầu em giữ nguyền vô hạn
Khuyết cuối anh gìn thệ cả đời.
Mỗi tháng hai phần cùng ghép lại
Quanh năm một mảnh chẳng hề vơi
Tuổi già nhớ mãi thời niên thiếu
Trăng khuyết lại tròn thỏa cuộc chơi
Họa 2:
Thu lạc bước
Giăng mắc mây thu tím cả trời
Đong đưa gió nhẹ lá vàng rơi
Giọt sương lóng lánh như viên ngọc
Hình ảnh nên thơ bức họa đời
Khi ánh tà dương dần tẻ nhạt
Lúc lòng lữ khách thấy chơi vơi
Làm sao ai hiểu tim người ấy
Ngắm cảnh thu buồn dạo bước chơi
THT
Họa 3:
Lạc Lối
Họa 4:
Tuần hoàn
Đêm đến trăng lên chiếu khắp trời
Canh tàn lấp lánh ánh sao rơi
Ngẫm nghĩ thời gian quá nữa đời
Chiến sĩ vô danh
Tháng Tư lửa đạn vút ngang trời
Một mảnh chim bằng gãy cánh rơi
Mấy trận thư hùng đau đớn phận
Mười năm chinh chiến xót xa đời
Người đi bỏ lại đàn con lạc
Kẻ ở ngăn sao giọt lệ vơi
Xa khuất một thời lo nỗi chết
Còn ai đợi uống cà phê chơi ?!!
Nguyễn Cang
2. Cổ nhạc: Người Điên yêu trăng
莫謂春殘花落盡 | Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận | Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết |
庭前昨夜一枝梅 | Đình tiền tạc dạ nhất chi mai | Đêm qua sân trước một cành mai |
Trăng hỡi trăng ơi, bao đêm rồi ta nhớ vầng trăng.
Sương khuya mờ rơi, cây tuôn ngàn lá...
Buồn ơi là... buồn.
Vọng Cổ
Nhưng tại sao ta đã ngồi đây suốt một đêm thu bốn bề giá lạnh mà vầng trăng khuya vẫn khuất dạng giữa... đêm... sầu.(Hò 16)
Ta chờ đợi vầng trăng in bóng dưới chân cầu. (Hò 20)
Để ôm ấp một mãnh hồn hoang dại,
nhưng đợi chờ hoài mà có thấy trăng đâu. (Xê 24)
Ta cất giọng cười mà lã chã dòng châu,
nước mắt tuôn rơi pha lẫn nước sông dài.( Xang 28)
Ta tưởng chừng vừa nhấp cạn chén men cay,
để hồn nặng u hoài rồi nửa say nửa tĩnh. (Cống 32)
Câu 2:
Trăng ơi, ta nhớ mùa trăng,
mùa trăng ly loạn mùa trăng đợi chờ. (Hò 16)
Nhưng khói lửa chiến chinh đã làm tan vỡ ánh trăng mờ. (Hò 20)
Ta điên loạn khi đất bằng nổi sóng,
mất trăng rồi là mất cả nguồn thơ. (Xê 24)
Trăng vàng ơi khuất nẻo vô biên,
ta nghe như đất lỡ trời nghiêng.(Xê 28)
Gió lướt thướt đưa hồn qua ngõ vắng,
trăng khuất lâu rồi sao ta vẫn còn điên. (Xang 32)
Ta ở đâu mà lạc đến phương này. (Hò 20)
Ta muốn khóc nhưng sợ người chê khiếp nhược,
ta muốn cười nhưng sợ họ gọi mình điên. (Xê 24)
Hãy đưa ta về chốn cung tiên,
mượn trăng thanh gió mát làm duyên. (Xang 28)
Và nằm gọn trong vòng tay ngọc nữ,
cho phút giây được quên mối ưu phiền. (Hò 32)
Câu 5:
Ta sẽ ca lên bài ca điên loạn,
ai có nghe xin chớ vội chê cười. (Hò 16)
Ta vẫn còn đây với số kiếp con người. (Hò 20)
Nhưng thấy trắng nói đen nhìn quen ra lạ,
cho nên mọi người mới gọi kẻ cuồng tâm. (Xê 24)
Khi ta đi trăng vàng tỏa bóng,
ngày ta về khuất dạng vầng trăng. (Xê 28)
Ta cười mà khóe mắt rưng rưng,
nửa sầu nhân thế nửa thương chuyện đời. (Xề 32)
Câu 6:
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.
Ta bỗng dưng thèm khát vị men cay,
uống từng ngụm cho say đừng tĩnh nữa. (Cống 16)
Hãy rót đi! ta đang chờ em đó,
Đừng ai gọi đến tên ta,
thế nhân vẫn tĩnh còn ta loạn cuồng. (Xề 24)
Khóc cho mình số kiếp đau thương,
Đâu đây khói lửa chưa tàn,
thiếu ánh trăng vàng nên ta vẫn còn điên. (Hò 32)
Bài thơ Cáo Tật
Thị Chúng của Thiền Sư Mẫn Giác
|
告疾示眾 |
Cáo tật thị chúng |
Có
bịnh bảo mọi người |
|
春去百花落 |
Xuân
khứ bách hoa lạc |
Xuân
đi trăm hoa rụng |
|
春到百花開 |
Xuân
đáo bách hoa khai |
Xuân
đến trăm hoa cười |
|
事逐眼前過 |
Sự
trục nhãn tiền quá |
Trước
mắt việc đi mãi |
|
老從頭上來 |
Lão
tòng đầu thượng lai |
Trên
đầu, già đến rồi |
|
莫謂春殘花落盡 |
Mạc
vị xuân tàn hoa lạc tận |
Chớ
bảo xuân tàn hoa rụng hết |
|
庭前昨夜一枝梅 |
Đình tiền tạc dạ
nhất chi mai |
Đêm qua sân trước
một cành mai |
|
Mãn Giác Thiền sư 滿覺禪師 (1052-1096) |
Trần-Lâm Phát chú
âm |
Ngô tất Tố dịch |
Giảng nghĩa: Trần-Lâm Phát
|
Cáo |
告 |
Báo cho biết, trình
lên cho biết |
|
Tật |
疾 |
Bịnh |
|
Thị |
示 |
Mách bảo cho biết |
|
Chúng |
眾 |
Đám đông, số người |
|
Cáo tật thị
chúng: Báo bịnh cho mọi người |
||
|
Xuân |
春 |
Mùa xuân |
|
khứ |
去 |
đi (như khứ hồi là
đi và về) |
|
bách |
百 |
100 |
|
hoa |
花 |
bông hoa |
|
lạc |
落 |
rơi, rụng |
|
Xuân
khứ bách hoa lạc: mùa xuân qua rồi, hàng trăm hoa rụng |
||
|
Xuân |
春 |
Mùa xuân |
|
đáo |
到 |
đến |
|
bách |
百 |
100 |
|
hoa |
花 |
bông hoa |
|
khai |
開 |
mở, nở ra |
|
Xuân
đáo bách hoa khai: mùa xuân đến, hàng trăm hoa đua nở |
||
|
Sự |
事 |
việc là |
|
trục |
逐 |
đuổi theo |
|
nhãn |
眼 |
con mắt |
|
tiền |
前 |
phía trước |
|
quá |
過 |
vượt qua như quá
khứ là thời gian đã qua |
|
Sự trục nhãn tiền
quá: việc đuổi theo nhau đi qua trước mắt |
||
|
Lão |
老 |
Già |
|
tòng |
從 |
theo |
|
đầu |
頭 |
cái đầu |
|
thượng |
上 |
trên |
|
lai |
來 |
đến |
|
Lão
tòng đầu thượng lai: già theo từ trên đầu mà đến |
||
|
Mạc |
莫 |
chớ đừng, không
phải |
|
vị |
謂 |
nói, gọi là |
|
xuân |
春 |
mùa xuân |
|
tàn |
殘 |
tàn tụa |
|
hoa |
花 |
bông hoa |
|
lạc |
落 |
rơi, rụng |
|
tận |
盡 |
hết |
|
Mạc
vị xuân tàn hoa lạc tận: Đừng nói cuối mùa xuân hoa rụng hết |
||
|
Đình |
庭 |
Sân trước nhà |
|
tiền |
前 |
Mặt trước |
|
tạc |
昨 |
Hôm qua |
|
dạ |
夜 |
đêm |
|
nhất |
一 |
1 |
|
chi |
枝 |
cành |
|
mai |
梅 |
hoa mai |
|
Đình tiền tạc dạ
nhất chi mai: sân trước nhà, tối hôm qua 1 cành mai trổ ra |
