01 tháng 4, 2026

NỖI LÒNG NGƯỜI VỢ TÙ CẢI TẠO_Nguyễn Cang




NỖI LÒNG NGƯỜI VỢ TÙ CẢI TẠO


(Tháng Tư buồn, viết thay lời vợ)

Ta lưu lạc không nhà nơi thành phố
Đông phong về đêm lạnh phủ mù sương
Ta còn đây hay đã mất quê hương
Nghe con khóc biết mình còn đang sống

Xuân sắp đến bạc tiền như vườn trống
Hạt mưa rơi gom nỗi nhớ vào tim
Đi về đâu trong cõi vắng im lìm
Nghe mặn đắng bờ môi tê buốt giá

Mùa đông lạnh anh phong phanh áo vá
Gió cao nguyên có tê tái trong lòng
Thân phận nghèo mình cứ mãi long đong
Em vẫn đợi vẫn chờ ngày gặp lại

Soi gương mặt tóc nào còn xanh mãi
Chiều Tân Quy* chiều mắt đỏ mong chờ
Trong khổ đau đành mất tuổi mộng mơ
Đứa con nhỏ giật mình kêu mẹ khóc

Trả hết anh những hẹn hò trách móc
Còn lại đây những cay đắng dật dờ
Rót ưu tư vào bến giác hoang sơ
Lau nước mắt nhạt nhòa mưa cuối hạ!
Nguyễn Cang
Apr . 10, 2025



26 tháng 3, 2026

In Memory of my Dad_Phat Tran-Lam

 

Farewell my Dad

In 1979, I see off my Father returned to his hometown.
I hurriedly bid farewell to my country and left.
Not knowing what the future held,
I had to endure the pain of parting from Father once more.
Watching the bus arrive to pick up Father at the gate,
I tearfully apologized for my filial disobedience to Father
Then tomorrow I would go far away
Without relatives, acquaintances, or friends
In a foreign land, I would look back at my country
A quiet life of a widow raising children
I lost track, my Father waiting and longing
In 1987, Fairyland, where Father arrived
Phat Tran-Lam
Feb. 2026

Note: My dad passed away on March 27, 1987 (February 28 on the lunar calendar). At the time, I was living in Virginia with my family and working at the Power Training Center in Chesterfield. The United States and Vietnam had not yet established normal relations, so communication was very limited.
I didn’t learn of his passing until later that year, when my friend’s brother in California called to tell me. It was a very difficult moment.

Music created by AI SUNO

1. Country Music style:


2. Ballad style:








25 tháng 3, 2026

VTM 187_Xa cha_PTL


 

Xa Cha
Năm bảy chín (1979) tiển Cha về quê nội
Con vội vàng vĩnh biệt nước ra đi
Không biết tương lai có được cái gì
Đành thắt ruột xa Cha thêm lần nữa

Nhìn xe đò đến đón Cha nơi cửa
Con ngậm ngùi xin bất hiếu với Cha
Rồi ngày mai con sẽ đến phương xa
Không thân thuộc người quen hay bằng hữu

Nơi đất khách con trông về quê cũ
Đời quan phu lặng lẽ sống nuôi con
Con biệt tăm Cha ngóng đợi mõi mòn
Năm tám bảy (1987), Bồng lai, nơi Cha đến

PTL

Oct. 10, 2025

quan phu   : người góa vợ

Họa 1:

Nhớ quê xưa.
Mỗi dịp tết háo hức về nhà nội
Kiến trúc xưa sàn gỗ mát chân đi
Thuở ấu thơ chưa phải nghĩ lo gì
Leo hái trái hết cây này, cây nữa...

Chơi cút bắt trốn mình sau cánh cửa
Chiều tắm sông, sợ nước níu chân cha
Ngắm lục bình theo sóng mãi trôi xa
Hoa tim tím như mời ai sở hữu.

Năm tháng dần trôi còn đâu cảnh cũ
Tóc bạc màu mong trở lại trẻ con
Bờ sông xưa sóng xô lở hao mòn
Bao ký ức chợt về khi tết đến.
Minh Tâm

Họa 2:

Mất Ba 
Rơi nước mắt đưa ba ra đồng nội
Bảy chín mùng mười ba trút hơi đi
Tai họa từ đâu ập tới làm gì
Ba đã mất không còn mong chi nữa

Quan tài của ba cây gòn trước cửa
Bốn thanh dài đủ đựng hình hài cha
Đau xót tâm cang máu chảy chia xa
Mắt đẩm lệ đám ma vài thân hữu

Đổi đời đói khổ năm giao thời cũ
Anh trai tù cải tạo thiếu bà con
Tiển cha đi theo xóm nhỏ lối mòn
Khăn tang trắng mộ phần nơi ba đến
Hương Lệ Oanh VA

Họa 3:

Nỗi lòng
Chủ tịch Đảng hổn danh Ông Cố Nội
Nước non nầy Ông quyết định hướng đi
Đất nước ta Ông chả phải quái gì
Tài sức hẳn khỏi cần bàn tới nữa

Hậu quả đến cảnh tan nhà nát cửa
Con cái cam đành cách biệt mẹ cha
Tìm đất lành dù lạc bước phương xa
Ruộng vườn đất Đảng Ta đà chiếm hữu

Nơi xa xôi chợt nhớ về chốn cũ
Con sông Đồng ôm ấp mái tranh con
Thôn ấp nhỏ giăng mắc dấu chân mòn
Ông Cố Nội tại sao Ông lại đến ?!
THT

Họa 4:

Ký ức
Sau cuộc chiến Mẹ đưa về xứ nội
Bến Ninh Kiều tấp nập lắm người đi
Nhìn mong lung không hiểu bởi lẽ gì
Chỉ cảm nhận bình an không còn nữa

Chập choạng tối, ông tựa mình trước cửa
Nét buồn lo trông ngóng của người cha…
Khánh chồng con đồn trú ở phương xa*
Ảnh không thể nào rời xa chiến hữu…

Lời mẹ nói đầm đìa dòng lệ cũ
Kể từ khi Mẹ biết mất cha con
Mắt mẹ thâm sẫm tím đến héo mòn
Ông vội bảo… Tìm nơi an trú đến… **
Tâm Quã

*Lời của mẹ
**Ông bà nội và Mẹ-Tôi ra biển
Cuộc đời trôi theo một chuyến hãi hành

Họa 5:

Xa Mẹ vĩnh viễn
Đậu phỏng vấn tôi vội về bên nội
Thăm mẹ già lần cuối , bước chân đi
Nhìn tương lai không biết trước điều gì
Nhưng quyết định, cơ may không còn nữa

Nhà tôi đó bóng mẹ già tựa cửa
Ngồi trông con về làm giỗ cúng cha
Gặp mẹ lần cuối vĩnh viễn chia xa
Cô đơn cất bước không ai thân hữu

Ôi ly khách nay ngóng về chốn cũ
Ta ngày đêm sống lặng lẽ vì con
Vui một ngày vẫn nhớ mẹ hao mòn
Mẹ tạ thế chốn Vĩnh hằng tìm đến…
Nguyễn Cang
Mar. 1, 2026

Họa 6:

Ân phụ

Con tiễn bước đau lòng cha về nội
Lệ rơi hoài lòng nghẹn tiễn cha đi
Mai ra đi lòng quặn biết được gì
Đêm vắng bước con tim đau lần nữa

Sân chiều vắng con thơ nhìn ra cửa
Con xa quê lòng nghẹn nhớ về Cha
Mai ly hương đời mỏi bước đường xa
Tình nghĩa cũ con còn đâu bằng hữu

Nơi đất lạ con tìm về quê cũ
Cha âm thầm đời tần tảo nuôi con
Con xa quê lòng khắc khoải đợi mòn
Ngày trở gót con mong cha về đến
ChatGPT AI

Chú thích của PTL về từ cải tạo:
Sau 30-4-1975, chính quyền dùng từ cải tạo 改造 .
Đó là sai lầm. Cải tạo nghĩa là sửa đổi, làm cho thích ứng với hình thể và nhu cầu mới.
Từ này dùng cho vật vô tri vô giác.
Trong Thi Kinh 詩經 có câu:
Truy y chi hảo hề, Tệ dư hựu cải tạo hề
 緇衣之好兮, 敝予又改造兮
Áo đen (xưa dùng chỉ trang phục mộc mạc) đẹp tốt, nếu rách thì chúng tôi làm cái áo khác đổi cho

Muốn dùng cho con người thì phải dùng cải hối 改悔 nghĩa là hối lỗi và sửa đổi
Trong Chiến quốc sách 戰國策 có câu:
Thái tử trì chi, nghi kì hữu cải hối 
子遲之, 疑其有改悔 
 Thái Tử Đan thấy chậm trễ, ngờ Kinh Kha đã hối hận mà đổi ý.

Trước 30-4-1975, miền Nam dùng từ Cải huấn 改 訓
Cải 改: biến đổi
Huấn 訓 : dạy dỗ
Cải huấn nghĩa là quá trình dạy đỗ, rèn luyện và uốn nắn lại hành vi, tư tưởng của những người vi phạm pháp luật hoặc trẻ em hư hỏng.

1. Tân nhạc: Xa Cha
Lời bài hát: Trần-Lâm Phát
Ca sĩ: AI Suno




2.Cổ nhạc: Ngày giỗ nhớ cha

Soạn giả: Viễn Châu
Nghệ sĩ: Tấn Tài

Chú thích:
Trong câu 2 của bài ca có câu chữ Hán:

1. Phụ mẫu tại đường bất khả viễn du 父母在堂, 不可遠遊
Nghĩa là cha mẹ còn sống thì con không thể đi xa

2. Trong câu 4 có hai câu chữ Hán trích trong bài hát nói Vịnh sầu tình của Ngyễn Công Trứ:

Giục phá thành sầu tu dụng tửu,
欲破愁城須用酒
Túy tự túy đảo sầu tự sầu
醉自醉倒愁自愁

Nghĩa là :
Muốn phá tan nổi buồn thì dùng rượu
Tự mình say gục xuống thì nổi buồn vẫn trở lại

Ý nói rượu không thể giải nổi buồn
PTL



Nói lối:

Ơn nào nặng bằng ơn sinh dưỡng
Nghĩa cù lao lấy lượng nào đong
Con nhớ ngày hôm nay là ngày kỷ niệm của phụ thân
Nhưng đường cách bức nên không tiện về quê cũ...

Vọng cổ

Câu 1:

Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội, thì người ly hương thất thổ vẫn ưu tư thương nhớ một phương... trời…

Tôi biết xóm làng tôi đã bao phen vật đổi sao dời. Tôi ra đi với tấm lòng trong trắng, và tâm hồn mình chưa vướng bụi phù hoa. Hai mươi năm cát bụi đường xa; ai lạ, ai quen, ai khanh tướng công hầu. Ai êm đềm trong nệm gấm chăn bông, mình vẫn lạnh lùng với cầu sương điếm cỏ.

Câu 2:

Hồi chuông chiêu mộ âm vang trong gió lạnh, mình vẫn ngồi đây nuối tiếc mộng xuân thời. Chiếc áo thư sinh đã hoen ố bụi đời. Con bỗng nhớ lời Cha dạy con từ thuở bé: “ Phụ mẫu tại đường bất khả viễn du 父母在堂, 不可遠遊 ”. Nay đời con như chiếc lá mùa thu, đang phiêu bạc giữa bốn bề bão tố. Rồi lắm khi rũ áo phong sương trên gác trọ, để lặng nhìn xe ngựa cõi phồn hoa.

Câu 4:

Khi con vừa bước chân lìa xa quê hương thì tuổi thanh xuân còn thắm tươi như hoa mộng. Rồi đến nay cuộc sống gian truân giữa thành đô hoa lệ khiến nên mái đầu xanh đã nhuộm trắng bụi giang... hồ…
Đường về quê cách trở mấy con đò.

Còn đâu chí liệt oanh toan vá trời lấp biển, còn đâu những mảnh tình lãng mạn tự ngày xưa.

“Giục phá thành sầu tu dụng tửu,
Túy tự túy đảo sầu tử sầu”.
(欲破愁城須用酒,醉自醉倒愁自愁)

Đường vào thôn chưa phai mùi khói đạn, mà quả tim côi đã nứt rạn bao lần.

Câu 5:

Con nghe trong tiếng chuông khuya có mùi trầm hương phảng phất, ngày giỗ của Cha con không thể quay về.

Lý con sáo:

Sầu dâng tràn lê thê
Con hình dung những buổi sương mờ
Cha ra đứng ngóng con đò.
Chờ con về tròn câu hiếu nhi
Bao tháng năm để Cha sầu bi.
Rồi đến ngày lìa xa thế gian
Cha cố níu hơi để mong chờ con.
(Trở về vọng cổ)

Ôi, nghĩa cù lao con báo đáp chưa tròn.

Câu 6:

Gà báo hiệu bình minh xao xác, lá lìa cành tan tác dưới sương mai. Hai mươi năm dâu biển đổi thay, nhưng tâm trí vẫn hoài vọng chân trời quê cũ. Bến trúc giang trăng còn soi cổ độ, mà người Cha hiền đã khuất bóng ngàn dâu. Hỡi mấy chiếc chim ngàn nối cánh về đâu, cho tôi gửi đoạn sầu về bến cũ.
Khi tôi ra đi thì ngập trời vang tiếng súng, mà hai mươi năm sau vẫn rền vang lửa đạn tơi bời.
Cha ơi! Ngày giỗ của Cha con không được về quê.
Con xin thắp nén hương lòng trong tâm tưởng.
Mồ Cha cỏ phủ rêu mờ
Con chẳng bao giờ đền đáp nghĩa cù lao.

16 tháng 3, 2026

BA TÔI_Nguyễn Cang

 


( Hình chụp song thân lúc tuổi 70)

Ba tôi

Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, ở cái tuổi gần đất xa trời, tôi mới viết về người cha yêu quý của mình cũng nhân ngày Father’s day, như nén hương lòng kính dâng lên người quá cố đã hy sinh cả đời cho tôi. Tuổi thơ của tôi không may mắn như những đứa trẻ khác , có thể nói là một bất hạnh ngay từ lúc tôi mang tiếng khóc chào đời !

Lúc 6 tuổi sống chung với cha mẹ ở vùng bất an ninh , tánh mạng của ba tôi bị đe dọa thường xuyên do hai thế lực kình chống nhau quyết liệt là Cao Đài và Việt Minh. Việc nầy lại đe dọa tới sinh mạng của tôi thế mới gọi là oan khiên địa tạng !Họ (?) tìm cách giết ba tôi nhưng may mắn đêm đó ba tôi vắng nhà, họ kề súng vào đầu tôi bảo : “ba mầy trốn thì mầy phải thế mạng “ . Trong tích tắc cận kề cái chết bỗng tên cầm đèn pin gạt khẩu súng tên kia qua một bên, chúng lùng sục một hồi rồi biến mất trong màn đêm đen kịt. Như vậy là Trời đã cứu tôi !Từ đó cứ chiều đến là má tôi dẫn tôi vào rừng để trốn chạy kẻ săn người . Vào rừng không mền chiếu, không mùng che muỗi nên chưa đầy 2 tháng tôi bị muỗi đốt , bị sốt rét trầm trọng tưởng chết. Thấy vậy má tôi không vào rừng trốn nữa mà gởi tôi ở đậu nhà bà con làng kế bên, hơn một năm sau tôi lưu lạc xuống Trảng Bàng. Chắc có bạn thắc mắc: Làng gì mà ghê gớm như vậy? Xin thưa đó là làng Rừng Da, xã Lợi Thuận, quận Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh ( sát biên giới Campuchia) thời điểm 1945-1954 . Ở Trảng Bàng ông dượng ( Thầy Lý) xin cho tôi vào học lớp tư ( lớp 2 bây giờ), được gần 1 năm thì tôi bị bịnh “ban cua” tưởng chết, bà cô lật đật nhắn về quê bảo má tôi xuống Trảng Bàng gấp để chở tôi về quê chôn vì đêm qua tôi bất tỉnh không cục cựa. Chưa đầy 1 ngày mà má tôi đã xuống tới Trảng Bàng chở tôi về quê chôn. Một lần nữa ông Trời lại ra tay cứu tôi. Tôi không chết, má tôi vào xóm trong hốt thuốc nam cho tôi uống, được 10 thang thì tôi hết bịnh ! Sau khi hết bịnh tôi trở lại Trảng Bàng học tiếp, cũng nhằm lúc bãi trường, sang năm học mới, cô Chi chuyển tôi sang lớp tư ( tức lớp 2 bây giờ) do thầy Cón phụ trách. Như vậy ,tôi học lớp tư 2 năm, sau đó tôi chuyển về Tỉnh Tây Ninh nhờ ba tìm được việc làm ở Nhà Đèn tỉnh lỵ. Ba má cương quyết bỏ lại nhà cửa ruộng vườn, ra đi tìm vùng đất hứa xây dựng lại cuộc đời mới ở tỉnh lỵ Tây Ninh. Cuộc sống bây giờ tương đối dễ chịu, cha mẹ anh em sum hợp một nhà! Nhưng cũng từ đây tôi cảm thấy lo sợ vì ba tôi thường đánh tôi liên tục do bất cứ lỗi lầm lớn nhỏ gì cũng không tha. Ba tôi đánh tôi bằng roi mây mua ở chợ, mỗi lần má tôi mua 4,5 cây. Ba tôi chỉ đánh mình tôi thôi vì tôi là con trai cả, các chị và em ít khi bị đòn. Khi nào roi gãy hết thì mua cây khác. Mỗi lần bị đòn tôi la hét kinh khủng vì đau đớn, những lằn roi hằn những vết máu , tôi cong người chịu đựng hết 15 roi còn giam lại 5 roi. Lúc ấy tôi thương má tôi vô cùng, bà lúc nào cũng thủ sẵn chai cù là Mac -Shu, khi dứt trận đòn, bà kéo quần tôi xuống thoa thật nhanh vào những vết thương đau điếng !Tôi không hiểu tại sao ba tôi lại đánh tôi dữ dội như vậy ? Không biết có người nào khác bị đòn như tôi hôn? Có 2 trận đòn mà tôi nhớ mãi không quên. Lần nhứt tôi leo xuống hồ cạn công cộng bằng xi măng của nhà máy nước, bắt cá thia thia,tôi tưởng đây là cá thiên nhiên, ai ngời có người nuôi cá trong đó, họ mắng vốn ba tôi, tôi bị một trận đòn nhừ tử , má tôi xức gần hết chai cù là mà tôi vẵn không đứng dậy nổi ! Khi đánh tới roi thứ 10 má tôi nóng ruột, sợ tôi không chịu nổi nên tiến tới can ngăn, nhưng ba tôi nạt: Bà để tôi dạy đứa con cứng đầu nầy! Nói xong ba tôi quất tiếp, tôi rướn đầu nhìn lên, bất chợt thấy má tôi rươm rướm nước mắt, tôi không còn thấy đau nữa mà thấy thương má vô cùng ! Tôi có cảm tưởng như má đang chia phần 15 roi với tôi. Má ơi! Má ơi! Vết đau thể xác không bằng vết đau trong lòng con !( lúc nầy tôi đang học lóp nhứt, lớp 5 bây giờ). Hình ảnh nầy cứ theo tôi mãi suốt đời. Má là một bà mẹ vĩ đại trong lòng con. Mỗi lần nhìn ảnh má trên bàn thờ tự dưng con không kềm nổi xúc động, nước mắt trào ra không ngăn được. Lần thứ nhì là lúc ba tôi chuyển sang làm thơ ký ở Tòa Hành Chánh Tây Ninh. Chánh phủ cấp cho một căn nhà , phía sau có một khoảng đất trống, tôi dọn đất trồng đu đủ, rau cải nhưng con ông trưởng ban kinh tế ( Trần Văn X.) nhà gần đó ra can ngăn không cho , anh ta nói phần đất đó của anh ta xí trước rồi , tôi cãi lại , anh ta vào méc ba tôi, tôi bị một trận đòn sanh tử ! Ba tôi đánh tôi bằng bàn tay cứng ngắt vào đầu, tôi ngã ngữa ra sau, té nhào !Chị tôi sợ hãi bảo tôi xin lỗi ba, tôi tức giận : “Em không có lỗi gì hết, con cái nghèo khổ thiếu thốn như thế nầy không phải lỗi tại con mà do cha mẹ!” Ba tôi nhảy tới đánh tiếp, tôi lăn ra ngoài, bỏ bữa cơm chiều ( lúc nầy tôi đang học lớp sáu, gia đình có 7 người con, ba tôi làm việc vất vã mà đồng lương thì thấp nên thiếu thốn mọi bề.Ngoài ra còn bị sai vặt, chèn ép đủ điều khiến ba tôi buồn bực sinh quạu với con cái ! ).Ba tôi bị mặc cảm thua kém bà con họ hàng, bè bạn, về nhiều phương diện, nên thường xử ép con cái. Hiểu được trạng thái tâm lý nầy, tôi không còn giận ba nữa, đồng thời rút ra được bài học kinh nghiệm : Muốn sống vinh quang phải tự mình phấn đấu vươn lên…

Đến đầu năm đệ ngũ, tôi không còn bị đòn. Tuy vậy vẫn có khoảng cách giữa cha con trong nhà .Ba rất nghiêm khắc với con cái, chúng tôi rất sợ ba nên có việc gì nan giải cũng không dám hỏi ý ba hay tâm sự điều chi . Thằng em kế tôi đang học đệ nhất công lập Tây Ninh bỗng dưng bỏ học, đi lính mà không báo cho ba tôi biết, tôi thấy ba trầm tư, buồn bã không nói ra lời .Ông trở nên đăm chiêu, sống lặng lẽ, không còn tiếp xúc với bạn bè. Tôi thấy thương ba tôi nhiều hơn, ông rất cô đơn trong những năm tháng cuối đời.

Năm 1959 tôi thi rớt THĐIC, ba tôi sợ tôi bị bắt quân dịch ra chiến trường Miền Trung nguy hiểm nên cho tôi xuống SG học luyện thi THĐIC và TT. Gia đình lúc nầy đã nghèo khổ lắm rồi , chưa có đứa con nào đi làm để giúp thêm tài chánh. Nay ba phải trích ra một số tiền lớn cho tôi ăn học, thật là một hy sinh cao cả, tôi nhớ ơn ba và cảm động vô cùng.Năm 1963 tôi thi đỗ vào trường SPSG, phải học trong 2 năm, tôi rất ái ngại vì làm sao ba tôi có đủ tiền nuôi tôi trong 2 năm? Vậy mà ba tôi làm được nhờ đóng góp tiền bạc của người chị thứ ba ( chị mới đi dạy, chưa lập gia đình) . Rồi thời gian qua mau tôi ra trường về dạy học tại Gò Công, sau đó đổi về SG , tôi vừa dạy học vừa cắp sách tới trường, kết quả khả quan: tôi đậu liên tiếp các văn bằng tú tài II ban Toán, Khả Năng SP trung cấp SG, và cử nhân Đại học Văn Khoa SG cũ, đồng thời chuyển ngạch giáo sư. Được tin tôi thi đậu ba mừng lắm .Ba mãn nguyện vì thấy đứa con trai cứng đầu năm xưa nay đã thành công trong cuộc sống, và mặc dù nhiều khó khăn chồng chất nó vẫn kiên trì dùi mài kinh sử, làm gương tốt cho những đứa em sau nầy tiến lên ! Năm 1972 ba về hưu lại mang bệnh nặng phải mỗ sóng mũi vì bị nghi ung thư.Giữa thành phố SG bao la biết nơi nào mà trị bệnh? Tôi đưa ba vào bệnh viện Nguyễn Văn Học ( Gia Định), may mắn gặp lại người bạn cũ thuở còn đi học ở trọ nhà Bà Thầy đường Cống Quỳnh ( SG) là bác sĩ Phan Văn Tường, hiện là Giám đốc Bịnh Viện NVH, kiêm giáo sư đại học y khoa SG, giúp đở tận tình. Dầu mất liên lạc hơn 15 năm nhưng anh vẫn nhận ra tôi, rất tử tế. Anh nhận mỗ ngay sóng mũi cho ba tôi mà không qua thủ tục chờ đợi, tức nhiên miễn phí! Cám ơn bạn PVT nhé ! Hết bịnh ba tôi rất vui, ba thường hỏi tôi về chuyện nầy chuyện nọ, tôi cũng vui lây niềm vui của ba.

Sau 1975, gia đình ly tán, tôi ít khi về lại Tây Ninh thăm cha mẹ. Ba tôi mất trong hoàn cảnh cực kỳ đen tối của thời bao cấp: bàn tủ ghế bán sạch cũng không đủ tiền mua gạo, con cái tơi tả không đứa nào có khả năng mua cho ba một viên thuốc bao tử, ba phải uống diêm sinh ( sulfur) để trấn thống cơn đau, kết quả ba bị xuất huyết bao tử mà chết! Một cái chết vô lý, tức tửi, khi ấy tôi cũng vừa đậu phỏng vấn đi Mỹ theo diện HO ( 1992), một cuộc phỏng vấn đầy cam go, nghẹt thở do chính Trưởng Phái Đoàn Mỹ trực tiếp hỏi. Ba không còn dịp đưa tiễn đứa con ra sân bay cũng không còn cơ hội nhận những thùng quà từ Mỹ gởi về. Ba ơi! Sao ba không ráng thêm vài tháng nữa để con sang Mỹ rồi, sẽ mua thuốc gởi về cho ba uống? Riêng má, tôi cũng không gặp bà trong chuyến đi nầy vì sợ bà đau buồn sinh bịnh, khi vĩnh viễn xa tôi, nên các chị em tôi không cho bà ra sân bay tiễn tôi . Bà mất trước khi tôi tới Mỹ được 1 năm .

Mới đó mà hơn 30 năm trôi qua kể từ ngày tôi rời bỏ đất nước. Hôm nay tôi yên vị nơi xứ người, trong tuổi già bóng xế, chợt nhớ cha mẹ anh em thuở hàn vi mà chạnh lòng. Công ơn cha mẹ như trời biển làm sao tôi đền đáp cho hết được? Bây giờ còn lại là niềm vui và hạnh phúc quanh con cháu. Cuộc sống đầy đủ về vật chất lẫn tinh thần cũng không thay thế được niềm nhớ khôn nguôi về cha mẹ trong những ngày bần hàn nơi quê nhà. Con báo tin vui cho ba má biết, những đứa con của Thanh, Trung, Điệp đã vào đại học cả rồi, hứa hẹn tương lai tươi sáng trước mắt. Thanh, Trung còn nhắc : lúc ở Rừng Da nó theo má vào rừng xắn măng, gặp mấy trái đạn chưa nổ nằm gần một hố bom tổ bố mà hết hồn ! Nó nói tiếp : “Phải chi ông bà nội còn sống nó sẽ chở ba má đi chơi, vào nhà hàng ăn uống thả giàn cho bỏ những ngày đói rét năm xưa” . Riêng con không thể nào quên được, lúc nhỏ, nhà mình nghèo đói cực độ, có khi chan cơm bằng nước mắt…

Một nén hương lòng kính dâng Ba Má nhân ngày lễ Father’s Day! Ba Má ơi! Con thương nhớ Ba Má vô cùng Ba Má biết không?

Nguyễn Cang
Jun. 16, 2023

23 tháng 2, 2026

If I will not come home this New Year _PTL



I wrote this article during Iraq war to honor our soldiers

This lady play the song with a single zither instrument



 

If I will not come home this New Year 



I know my mom and my brothers are waiting and looking for me

When they saw the yellow plum flowers bloom at the gate

Last year I promised I will be home at a new year

Now swallows are darting through the gate

And the information of my son still far away

 

Oh! Remember one time with no war

Listen to the fire crackers any where

Sat beside the cake boiler and waited for the sun rose

And our faces are turned red

 

If I do not come home my mom probably is very sad

The roof of our house does not have a person to decorate

The garden does not have yellow flowers to celebrate a new year

My young brothers are waiting for their old brother

To bring home for them a new shirt

And they will wear to show the neighbors on three days of a new year

 

I know my mom was waiting and my brothers were looking for me

If I come home my comrades will be sad

All of us were celebrated many new years at the battlefield

I can not be warm at home and leave my friends at the war zone

Oh! Mommy I will not come home this new year 

 

Trịnh Lâm Ngân wrote this song during Vietnam War. He described a sentiment of a soldier during the New Year Holidays (Tết). 

War is violent. War separated teachers and students, husband and wife, father and children, brothers and sisters, friends and friends. A soldier always put his country at the highest priority. A soldier can not go home on the new year even he knew his mother and his brothers, sisters are waiting to see him because he was loyal to his comrades. Soldiers live and die together on a battlefield, combated for one reason and served for the country. During Vietnam War every family from North to the South did lose at least one son. One joke flawed around this war time “One day in the military equals to nine days in the jail and one day in the jail equals one thousand autumn season out of jail”. A soldier had no hope to alive. History proved that soldier life is as a bird feather. In China Vuong Han ( ) wrote a poem “A song of Liangzhou”: 

Raise a cup of wine in a bright night

He wants to drink but the sound of music push him to get up on horseback

Who laugh you when you drunk on the battlefield?

From the past until present how many soldiers ever comes home?

 

  

           

           

           

           

 

Lương Châu  T

Bồ  đào  mỹ tửu dạ quang  bôi

Dục ẩm tì bà  mã thượng khôi

Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân  hồi

                   Bài hát Lương Châu

(Lương Châu là một vùng ở tĩnh Cam Túc bênTrung Hoa)

Nâng chén rượu bồ đào trong đêm sáng

Muốn uống nhưng tiếng tì bà đã dục lên lưng ngưạ

Say mà nằm nơi sa trường có ai cười đâu

Từ xưa đến nay mấy ngư ời trở lại từ nơi chiến trường                                                                 

            

The first three lines of this song:

I know my mom and my brothers are waiting and looking for me

When they saw the yellow plum flowers bloom at the gate

Last year I promised I will be home at a new year

 

 Trịnh Lâm Ngân described a soldier sentiment. The work “yellow plum flowers” indicated the New Year season (two weeks on the winter, December, and a month on the spring, January). This plum has a yellow flower; each flower has five wings and only blooms on New Year season. This flower is always looks fresh even when it falls down to the ground. The South Vietnam military used this flower symbol to present the officer ranking from Lieutenant to Colonel.  The South Vietnam president, Ngô đình Diệm, wanted his officers having the courage as this flower, always happy to serve for country until the last minute on their life.

             



 


The name of flowers, trees, and birds are used in Asian literature to indicate the seasons, time passing by. Each flower, tree or bird indicates a different season because people only see theses flowers, trees or birds once a year. In Vietnam literature the author of the famous poem “Song of Soldier Wife” used these ideas while a soldier said goodbye to his wife:

 

When you departed the orioles did not come on the willows

And you said you will be home when cuckoos sang a son

The cuckoos started to push the orioles grown old

And the swallows darted and chirp on the front gate

 

When you leave the yellow plum flower was still shy with the wind

And you promised to come back when the blossom bloomed

Blossom started to play with the east wind

And the lotus bloomed beside the river

 

柳 條 猶 未 囀

問 君 何 日 歸

君 約 杜 鵑 啼

杜 鵑 已 逐 黄 鸝 老

青 柳 樓 前 語 鷾 鴯

憶 昔 與 君 相 別 中

雪 梅 猶 未 識 東 風

老 梅 江 上 又 芙 蓉

Liễu điều do vị chuyển hoàng ly

Vấn quân hà nhật quy

Quân ước đỗ quyên đề

Đỗ quyên dĩ trục hoàng ly lão

Thanh liễu lâu tiền ngữ ý nhi

Ức tích dữ quân tương biệt trung

Tuyết mai do vị thức đông phong

Lão mai giang thượng hựu phù dung

 

 

Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu,

Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca.

Nay quyên đã giục oanh già,

Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.

Thuở đăng đồ, mai chưa dạn gió,

Hỏi ngày về, chỉ độ đào bông.

Nay đào đã quyến gió đông,

Phù dung lại nở bên sông bơ sờ.

 Notes:

Orioles: winter

Cuckoos: summer

Swallows: spring

Yellow plum flower: winter

Rose: spring

East wind: spring. On the spring the wind comes from the east.

Lotus: summer

Now swallows are darting through the gate

        And the information of my son still far away 

 The fourth and fifth lines of the first part described the worries of a soldier’s Mom. Her son left on the winter and promised with her to come home on the spring. Now the time passed by and the swallows warned the spring came but his mom was still waited for his information on vacation. 

Oh! Remember one time with no war

Listen to the fire crackers any where

Sat beside the cake boiler and waited for the sun rose

And our faces are turned red 

On the second part author reminded every one how peacefully during the time without war. Every one was happy to celebrate a new year with fire crackers. On the New Year Eve, every body did not want to go to bed, children sat around the cake boiler and wait for the New Near to receive gifts. The flame of boiler cooking reflected to their face and they looked like to make up with red powder.

The mother prepared meals for the New Year and boiled pudding cakes (bánh tét, bánh chưng). These special pudding cakes only make once a year on the New Year Eve. 

If I do not come home my mom probably is very sad

The roof of our house does not have a person to decorate

The garden does not have yellow flowers to celebrate a new year

My young brothers are waiting for their old brother

To bring home for them a new shirt

And they will wear to show the neighbors on three days of a new year 

The third part told us that a soldier knew that his mom will be disappointed and his house will not be decorated, his garden will not have flowers on the New Year. A war destroyed a normal life and a New Year day looked like a funeral day. The most influence to us and broke our heart when we listen to soldier talking about his mom and his brothers. His younger brothers hoped and waited for him with a new shirt.  During the tree days of New Year children wear new clothes and went to neighbors to show them what they got. This moment only happened once a year and now his brothers will not have it this year. If you ever received no gifts on Christmas/New Year or you saw some one did not have a condition to celebrate Holidays you will understood deeply what the author tried to tell you.

I know my mom is waiting and my brothers are looking for me

If I come home my comrades will be sad

All of us were celebrated many new years at the battlefield

I can not be warm at home and leave my friends at the war zone

Oh! Mommy I will not come home this new year

Although a soldier knew his Mom anxious and his brothers hope for but he decided to stay at the battlefield. Soldier’s life was bonded together. Their friendship was the most important in their life because they shared happiness, sadness, live and die for each other. Soldier put his country priority above his family. On the poem “Song of Soldier Wife” author wrote:

On the foggy morning the country announced a draft   

The law was weight more than a deeply feeling             

(Sứ trời sớm giục đường mây

Phép công là trọng niềm tây sá nào)

使                     Sứ tinh thiên môn thôi hiểu phát

                    Hành nhân trọng pháp khinh ly biệt

 

 

 

Asian philosophies stated that a soldier shall be used horse skin to cover his body and it is better to die on the battlefield than die in a woman hand. Soldier’s life were unpredictable, they used too with danger and they were courage. On the “Song of Soldier Wife” was also influenced by these ideas: 

Soldiers have gone to a war for long time   

They knew that their life as a grass          

(Những người chinh chiến bấy lâu

Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây)

古 來 征戰 人     Cổ lai chinh chiến nhân

性命              Tính mệnh khinh như thảo

 And

A  man will cover him with horse skin            

Though a great mountain as a goose feather 

(Chí làm trai dặm nghìn da ngựa 

Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao )

         Trượng phu thiên lý chí mã cách

           Thái Sơn nhất trịch khinh hồng mao


On the poem “Violet Flower” Hữu Loan wrote:

Married with a soldier during a war time   

How many of them will come back           

(Lấy chồng đời chiến binh

Mấy người đi trở lại)

Many tears ran down on soldier’s face and he felt hurt when he wrote “Mommy I will not come home this year” 

Why the author did not mention to a soldier’s father? Was his Mom a single woman? 

A man provides a financial and serves for the country. He is a shadow of his family.

Asian woman has many different responsibilities. She takes care everything for her family: raising children, teaching them moral and a man‘s responsibilities. On Vietnamese proverb it indicated that “A bad child because of his mom, a bad grand child because of his grandma” (Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà). A woman also acted as husband during a war time, served mother in law and taught a child to read. One more time the poem “Song of Soldier Wife” emphasized these duties: 

Your mom stood by at the door with sadness

Your child was hungry and wait for the rice 

 I took care your mom as her son     

I acted as father to teach your child to read  

( Lòng lão thân buồn khi tựa cửa

 Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm

  Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam

  Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân)

老 親 兮 倚 門

Lão thân hề ỷ môn

兒 郎 兮 待 哺

Nhi lang hề đãi bộ

供 親 餐 兮 妾 爲 男

Cung thân xan hề thiếp vi nam

課 子 書 兮 妾 爲 父

Khóa tử thư hề thiếp vi phụ

Many Americans do not understand a war. War brings to human suffering, separation, hopeless. War is evil genius and some one will lost a love one during a war. That why we call “war”, not peace.

Now you completely understood the war and soldiers’ duties, you never ever hurt them. You must respect them. Without soldiers you will not have a normal life. You always support our troops and do not protest the war. You protest the war is the same way you stab our troops in their back and support enemies. 

Virginia, 04 July 2006

Phat Tran-Lam

School of Pedagogy, University of Saigon

Major: Vietnamese and Chinese literature

     Class 1972


Bản dich của AI:

Trịnh Lâm Ngân đã viết bài hát này trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Ông diễn tả tâm trạng của một người lính trong những ngày Tết.

Chiến tranh là tàn bạo. Chiến tranh chia lìa thầy trò, vợ chồng, cha con, anh chị em, bạn bè. Người lính luôn đặt Tổ quốc lên trên hết. Người lính không thể về nhà dịp Tết dù biết mẹ và anh chị em đang mong ngóng, vì anh trung thành với đồng đội. Người lính sống chết có nhau nơi chiến trường, chiến đấu vì một lý do và phụng sự đất nước. Trong thời chiến, hầu như gia đình nào từ Bắc chí Nam cũng mất ít nhất một người con trai. Có câu nói đùa cay đắng thời đó: “Một ngày trong quân ngũ bằng chín ngày trong tù, một ngày trong tù bằng một nghìn mùa thu ngoài song sắt.” Người lính hầu như không có hy vọng sống sót. Lịch sử chứng minh sinh mạng người lính nhẹ như lông hồng.

Bên Trung Hoa, Vương Hàn (王翰) đã viết bài thơ “Lương Châu Từ”:

Nâng chén rượu bồ đào trong đêm sáng
Muốn uống nhưng tiếng tỳ bà giục lên ngựa
Say nằm nơi sa trường xin chớ cười
Xưa nay chinh chiến mấy ai trở về

Bài thơ nói lên thân phận người lính: từ xưa đến nay, mấy ai ra trận mà trở lại?

Ba câu đầu của bài hát:

“Tôi biết mẹ và các em đang mong chờ
Khi thấy hoa mai vàng nở trước ngõ
Năm ngoái tôi hứa Tết này sẽ về.”

Trịnh Lâm Ngân đã khắc họa tâm trạng người lính. Hình ảnh “hoa mai vàng” tượng trưng cho mùa Tết. Hoa mai vàng có năm cánh, chỉ nở vào dịp Tết, dù rơi xuống đất vẫn giữ sắc tươi. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa dùng hoa mai làm biểu tượng cấp bậc từ Thiếu úy đến Đại tá. Tổng thống Ngô Đình Diệm mong các sĩ quan có khí phách như hoa mai – luôn vững vàng, tận tụy phục vụ Tổ quốc đến phút cuối đời.

Trong văn học Á Đông, tên các loài hoa, cây cỏ, chim chóc thường dùng để chỉ mùa và thời gian trôi qua, vì mỗi loài chỉ xuất hiện vào một mùa nhất định. Trong “Chinh Phụ Ngâm”, tác giả cũng dùng thủ pháp này khi người lính từ biệt vợ:

“Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu,
Hỏi ngày về, ước nẻo quyên ca.
Nay quyên đã giục oanh già,
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.

Thuở đăng đồ, mai chưa dạn gió,
Hỏi ngày về, chỉ độ đào bông.
Nay đào đã quyến gió đông,
Phù dung lại nở bên sông bơ sờ.”

Chim oanh tượng trưng mùa đông, chim quyên mùa hạ, chim én mùa xuân, hoa mai mùa đông, hoa đào và gió đông mùa xuân, hoa sen mùa hạ. Thời gian trôi qua, mùa xuân đến mà tin chồng vẫn biệt tăm.

Câu thứ tư và thứ năm phần đầu bài hát diễn tả nỗi lo của mẹ. Con ra đi mùa đông, hứa về mùa xuân. Nay én đã bay về báo xuân sang mà tin con vẫn xa vời.

“Ôi! Nhớ một thời không có chiến tranh
Pháo nổ rộn ràng khắp nơi
Ngồi bên nồi bánh chờ trời sáng
Mặt ai cũng đỏ hồng.”

Tác giả nhắc lại những ngày yên bình. Đêm giao thừa, mọi người thức chờ năm mới, trẻ con quây quần bên nồi bánh tét, bánh chưng. Ánh lửa hồng soi gương mặt đỏ rực như thoa phấn. Mẹ chuẩn bị mâm cỗ Tết, gói bánh – những món chỉ làm một lần trong năm.

“Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm
Mái nhà thiếu người trang hoàng
Vườn không hoa vàng đón Tết
Các em mong anh về
Đem cho chiếc áo mới
Để mặc khoe ba ngày xuân.”

Người lính biết mẹ sẽ buồn, nhà không còn không khí Tết, vườn không hoa. Chiến tranh biến ngày Tết thành ngày tang. Hình ảnh các em mong áo mới khiến lòng người quặn thắt. Ba ngày Tết, trẻ con mặc áo mới đi chúc Tết – niềm vui chỉ đến một lần mỗi năm.

“Tôi biết mẹ đợi, các em mong
Nhưng nếu tôi về, đồng đội sẽ buồn
Chúng tôi đã đón bao cái Tết nơi chiến trường
Không thể ấm êm ở nhà mà bỏ bạn nơi trận tuyến
Mẹ ơi! Tết này con không về.”

Dù biết mẹ lo, em mong, người lính vẫn chọn ở lại. Tình đồng đội thiêng liêng vì họ cùng chia sẻ sống chết. Người lính đặt Tổ quốc trên gia đình.

Trong “Chinh Phụ Ngâm” có câu:

“Sứ trời sớm giục đường mây,
Phép công là trọng niềm tây sá nào.”

Luật nước nặng hơn tình riêng. Triết lý Á Đông còn nói: làm trai chí lớn, da ngựa bọc thây; thà chết nơi sa trường còn hơn chết trong tay mỹ nhân. Người lính xem nhẹ sinh mệnh mình:

“Những người chinh chiến bấy lâu,
Nhẹ xem tính mệnh như màu cỏ cây.”

Hay:

“Chí làm trai dặm nghìn da ngựa,
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.”

Trong bài “Màu Tím Hoa Sim”, Hữu Loan viết:

“Lấy chồng đời chiến binh,
Mấy người đi trở lại.”

Nhiều giọt nước mắt đã rơi khi người lính viết: “Mẹ ơi, Tết này con không về.”

Vì sao tác giả không nhắc đến cha? Trong văn hóa Á Đông, người cha là trụ cột, lo kinh tế và nghĩa vụ với nước. Người mẹ gánh vác việc gia đình, nuôi dạy con cái, thay chồng phụng dưỡng mẹ chồng. Tục ngữ có câu: “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.” Trong “Chinh Phụ Ngâm”:

“Lòng lão thân buồn khi tựa cửa,
Miệng hài nhi chờ bữa mớm cơm.
Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam,
Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân.”

Chiến tranh đem đến đau thương, chia ly, tuyệt vọng. Chiến tranh là điều ác, luôn cướp đi người thân của ai đó. Vì thế mới gọi là “chiến tranh”, không phải “hòa bình”.

Khi hiểu trọn vẹn nỗi đau và bổn phận người lính, ta sẽ biết trân trọng họ. Không có người lính, sẽ không có cuộc sống bình thường.

Bạn hãy luôn ủng hộ quân đội của chúng ta và đừng phản đối chiến tranh. Phản đối chiến tranh cũng giống như đâm sau lưng những người lính của chúng ta và tiếp tay cho kẻ thù.

Virginia, ngày 04 tháng 07 năm 2006
Phát Trần-Lâm
Trường Đại học Sư phạm,
Viện Đại học Sài Gòn
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam và Trung Hoa
Khóa 1972

16 tháng 2, 2026

VTM 186_Ánh Trăng Thề _Hương Lệ Oanh VA



Xướng:

Ánh Trăng thề

Quê tôi nước Việt mến yêu
Ngàn năm văn hiến bao triều đại xưa
Nắng chiều nghiêng ngả hàng dừa
Bầy trâu tắm mát lưa thưa mục đồng

Mái nhà thấp thoáng bên sông
Cánh diều bay bổng quanh vòng con đê
Nhớ xưa dưới ánh trăng thề
Có đôi bạn nhỏ a ê học vần

Thanh bình chưa được bao xuân
Bổng nhiên chinh chiến ngập tràn quê hương
Gây bao nhiêu cảnh tang thương
Tài trai tuổi trẻ lên đường đấu tranh

Đêm nay trăng chiếu qua mành
Có tâm hồn nhỏ đợi anh trở về
Người từ ngàn dặm sơn khê
Lặng nghe tiếng gió tư bề xuyến xao
Hương Lệ Oanh VA

Họa 1:

Đêm trăng

Quê tôi phong cảnh đáng yêu
Nhớ công Nam tiến quan triều thuở xưa
Ban đêm trăng rọi bóng dừa
Vi vu gió lọt rào thưa ra đồng

Lững lờ dòng nước trên sông
Quanh qua lượn lại theo vòng bờ đê
Nghe ca tân cổ hẹn thề
Hòa trong giọng trẻ o ê đánh vần

Bốn năm êm ả đón xuân
Thanh bình trổi dậy lan tràn dư hương
Thế rồi chiến sự bi thương
Mậu thân ở khắp nẻo đường giao tranh

Tháng giêng gió đẩy mành mành
Ngắm trăng mơ ước chờ anh quay về
Thương người băng dặm hàm khê
Đứng lên ngồi xuống bốn bề lao xao
PTL
Hẹn thề: Tân cổ "Lỗi hẹn câu thề" của Loan Thảo

Bốn năm: thuở thanh bình 1956-1960, thời đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa
hàm khê 含谿 : động núi

Họa 2:

Giấc mơ vụn dại

Mười lăm tui đã biết yêu
Thả hồn theo nước thuỷ triều bến xưa
Nghiêng nghiêng chiều ngã bóng dừa
Gió lay nhè nhẹ lưa thưa ngô đồng

Bóng hồng chợt đến bên sông
Thướt tha chân bước lượn vòng trên đê
Say sưa ngắm mái tóc thề
Thẩn thờ như trẻ à ê đánh vần

Đẹp sao cái tuổi thanh xuân
Như vườn hoa đẹp ngập tràn sắc hương
Tim tui đập nhịp yêu thương
Nghĩ về tổ ấm Thiên Đường mái tranh

Đêm đêm trăng khuyết xuyên mành
Đùa dai ôm miết chân anh không về
Ham chơi anh để cơm khê
Khói đen khét nghẹt tư bề xôn xao
THT

Họa 3:

Xuân này anh không về


Ai về Vàm Cỏ thân yêu
Dừng chân ngắm cảnh thủy triều bãi xưa
Xa xa in bóng rừng dừa
Tây Ninh nền cũ còn thưa chợ đồng

Nhà ai thấp thoáng bờ sông
Có đàn chiền chiện bay vòng chân đê
Đêm nghe tiếng hát câu thề
Hòa cùng giọng đọc i, ê đánh vần

Yên bình chẳng được mấy xuân
Chiến tranh bùng nổ, khuất dần quê hương
Khăn tang phủ kín người thương
Trai làng hăng hái tìm đường đấu tranh

Đêm nay sương đẫm vai mành
Ta ngồi đợi mãi sao anh không về
Bụi đường mấy nẻo sơn khê
Ly Tao mộ khúc tứ bề luyến xao !!!
Nguyễn Cang 
Feb. 11, 2026

Họa 4:

Non nước hữu tình

Hoàng Sa đảo biển tôi yêu
Trường Sơn đất Việt vương triều ngàn xưa.
Miền Nam bát ngát ruộng dừa
Trung phần san sát rừng thưa thớt đồng

Thị thành luôn tựa ven sông.
Thủ đô Hà Nội đường vòng quanh đê
Xưa đôi trẻ tập ước thề
Tuổi thơ bập bẹ y..ê..( ) Đánh vần!

Thoáng nay ngoài tám mươi xuân
Tha phương vọng ngóng bội phần ngát hương
Quê nhà trăm nhớ ngàn thương
Bởi đâu chinh chiến đôi đường phân tranh?

Gió xuyên lá xót đưa mành
Nắng soi thấu dạ… Em anh cùng về.
Dặm trường bảo tuyết nhiêu khê
Tình non nghĩa nước một bề không xao!
Tâm Quã

Họa 5:

Thương một trời quê

Nước non ngàn thuở mãi yêu,
Mở mang bờ cõi trăm triều xa xưa.
Vườn cây xoài mận ổi dừa,
Cánh diều lơi lả khói thưa đốt đồng.

Phù sa bồi đắp ven sông,
Kênh mương dẫn nước chảy vòng chân đê.
Thương sao những mái tóc thề,
Trường xưa lớp cũ i ê ráp vần.

Tuần hoàn thu mãn chờ xuân,
Mạ xanh mơn mỡn dâng tràn thơm hương.
Núi sông đã lắm đau thương
Máu hồng xương trắng nhuộm đường chiến tranh.
Lung linh nắng rọi xuyên mành

Trời quê thương mến hỏi anh có về?
Dẫu là gạo hẩm cơm khê,
Giậu rào xiêu đổ trăm bề lao xao…
Minh Tâm

1. Tân nhạc: Ánh Trăng thề
Tác giả: Hương Lệ Oanh
Ca sĩ: AI Suno












2. Cổ nhạc: Nhớ trăng xưa
Soạn giả: Giang Điền
Nghệ sĩ: Hoàng Ninh
 

chú thích: Trong câu 5 tác giả dùng từ "cổ độ 古渡" nghĩa là bến đò xưa. Trong Cung oán ngâm khúc có câu" cầu thệ thủy ngồi trơ cổ độ"



Nói lối:

Đã lâu rồi tôi mới trở lại quê xưa
Nơi đất mẹ thân thương còn vương nhiều kỷ niệm
Nhìn trăng đêm nay mà nhớ ngày xưa cũ
Nhớ tuổi dạy khờ cùng thao thức với trăng khuya

Câu 1:

Trỏ lại quê xưa tìm về kỷ niệm hồn nhiên của một thời áo trắng. Cảnh cũ còn đây, vầng trăng còn đó mà bóng người xưa nay đã vắng ....xa... rồi.
Thổn thức niềm riêng nghe dạ bồi hồi.
Lặng lẽ mình tôi tìm về nơi kỷ niệm, chốn hẹn hò của tuổi mộng ngày thơ.
Một thuở học trò khờ khạo ngu ngơ, chưa biết mộng mơ chưa nghĩ chuyện xa gần. Nên đã vô tình đánh mất một vầng trăng, khi tiếng yêu em một lần chưa dám ngỏ.

Câu 2:

Trăng đợi chờ ai mà lững lờ buồn bã, tôi đợi chờ ai mà chết cả tâm hồn.
Trăng gợi về đây bao kỷ niệm vui buồn.
Bến nước dòng sông như tủi hờn cô lẻ, khi mảnh trăng vàng ai nở xẻ làm đôi.
Có phải bây giờ mình đôi ngã chia phôi, để khóe mắt bờ môi lạnh lùng khô héo.
Dù đã chia xa đường đời trăm vạn nẻo, nhưng tôi nhớ hoài kỷ niệm những mùa trăng.

Nói lối:

Sao trăng mờ nhạt lững lờ?
Bên bờ lau sậy hững hờ gió đưa
Bùi ngùi nói với sao thưa
Đường xưa lối cũ ai đưa trăng về?

Câu 5:

Tôi bước chân đi một mình trên đường đê thanh vắng.
Tôi đi tìm ai mà tâm tư thầm lặng, tôi nhớ thương ai mà trĩu nặng mối... tơ....lòng.
Người con gái năm xưa đã cất bước theo chồng.
Cổ độ chơ vơ dưới nguyệt tà hiu quạnh, sương xuống phủ mờ khói lạnh kiếp phong ba.
Ai làm én nhạn chia xa, để trăng mờ ảo la đà trong sương.
Muộn màn nói những lời thương, tình xa u uất lệ tuôn đôi dòng.

Lý con sáo:

Trăng... trăng ơi! Sao ánh trăng còn chơi vơi
Trăng buồn thân phận mồ côi
Hay trăng đang thương nhớ một người
Nơi góc biển chân trời.
Nhớ những lần đêm trăng đã qua
Tôi hát tặng em một bản tình ca
Với cung đàn yêu thương thiết tha
Nay bóng trăng đã xa ngàn xa

Câu 6:

Trở lại quê xưa còn vương đầy thương nhớ,
Nhớ thuở ngây thơ mộng vỡ với trăng vàng.
Tơ lòng trăm mối ngổn ngang,
Tương tư nghe một tiếng đàn ngân nga.
Bây giời đôi ngã chia xa,
Tìm đâu nét ngọc dáng ngà trăng ơi!