11 tháng 2, 2026

VTM 185_Ngậm ngùi_Nguyễn Cang

 


Xướng:

Ngậm ngùi
Thăm thẳm trời chiều chiếc lá rơi
Nhớ dòng sông nhỏ dạ bồi hồi
Cuốn theo cát bụi mùa thu chết
Bỏ lại vườn thưa bọt nước trôi !
Thao thức đêm dài ngồi độc ẩm
Xót xa phận bạc khóc đầy vơi
Tà huy bóng ngã sầu ly biệt
Bến cũ trăng thề cũng nhạt thôi!!
Nguyễn Cang
Dec. 7, 2025

Họa 1:

Tiếng Mưa Rơi
Đêm về lặng lẽ tiếng mưa rơi
Kỷ niệm năm nao bổng khứ hồi
Khoảnh khắc tâm tư về hiện diện
Nỗi niềm phút chốc cũng buông trôi
Mơ hồ dĩ vãng thời thơ mộng
Hiện tại đong đầy cũng khó vơi
Có lẽ nhân sinh là thế ấy
Thôi thì quên hẳn chuyện xưa thôi
Hương Lệ Oanh VA
Jan, 22. 2026

Họa 2:

Đất khách
Nhớ ngày vượt biển lúc mưa rơi
Lìa xứ ra đi chẳng khứ hồi
Ngồi uống cà phê nhìn nắng sáng
Thương thầm thân phận kẻ bèo trôi
Ly hương không bạn càng hiu quạnh
Cuộc sống đổi đời tựa nước vơi
Chật vật bao năm nơi đất khách
Bình chân như vại cũng vui thôi
PTL

Họa 3:

Buồn xa xứ

Gió thu hiu hắt lá vàng rơi
Lữ khách tha phương dạ phản hồi
Chiến sĩ thương người xông trận tiến
Hận đời tiếc kẻ lững lờ trôi
Tìm đâu bè bạn ngồi tâm sự
Tri kỷ ngậm ngùi nhớ chẳng vơi
Non nước thân yêu giờ cách biệt
Xứ người đau xót thở dài thôi
THT

Họa 4:

Nào quên

Thu vàng lá đổ giữa chiều rơi
Vọng xót tình xưa mãi tưởng hồi
Dáng nhỏ bờ vai gầy tiễn biệt
Muôn tình ước lệ đẫm nào trôi
Ngàn thu độc ẩm chừng không nhạt
Lắm hạ đồng chung nghĩ chẳng vơi
Mộng tưởng thời gian liều thuốc giãi
Nhưng tình khắc dạ vẫn vầy thôi
Tâm Quã
Jan. 21, 2026

Họa 5:

Ngậm ngùi
Lá vàng khô cuống gió lay rơi
Nào biết về đâu kiếp tái hồi?
Rời rã chân đồi chờ đất trộn,
Bồng bềnh mặt nước kệ sông trôi.
Xưa mong nắng ấm khi thu muộn,
Nay chịu mưa vùi lúc hạ vơi.
Vạn vật tuần lưu sinh đến diệt,
Thuận vòng chuyển hóa máy trời thôi.
Minh Tâm

Họa 6:

Tâm sự cuối chiều
Hấp hối cuối chiều bóng nắng rơi
Chuông chùa thoang thoảng vọng từng hồi
Âm u vực thẳm, sương mù phủ
Lờ lững trời cao, mây xám trôi
Hũ rượu tràn trề gần sắp cạn
Tâm tình đầy ắp vẫn chưa vơi
Bàn cờ thế sự không màng tới
Thành bại, hơn thua, cũng vậy thôi
Thảo Chương
26-01-2026

1. Tân nhạc: Ngậm ngùi
Nhạc sĩ: Phạm Duy
Ca sĩ: Lệ Thu









2. Cổ nhạc: Giây phút ngậm ngùi
Soạn giả: Viễn Châu
Nghệ sĩ: Vũ khắc Điệp

 

Lối:

Mười mấy năm xa xứ là mười mấy năm chinh chiến 
Nay về Tiểu cần lòng xao xuyến bâng khuâng 
Khi ra đi đang lúc tuổi còn xuân 
Ngày trở lại tóc xanh đà điểm trắng 

Vọng cổ 

Câu 1:

Trở lại quê xưa tôi nghe tâm tư ngậm ngùi bao kỷ niệm, miền đất thân yêu sau mấy lần dâu biển vẫn ghi đậm trong tôi muôn thuở nặng ân... tình...
Lối nhỏ vào thôn tôi lẻ bước một mình. Mười mấy năm làm thân viễn xứ, nay trở về thăm lại xóm làng xưa. Thôn ấp ngày nào đổ nát hoang sơ, nay lại vang lên tiếng hát tiếng đàn. Khóm trúc bên đường cành lá phất phơ, như đón chào người trở về xóm cũ. 

Câu 2:

Cây điệp bên sông xơ rơ vì pháo giặc nay mấy cành tươi lại nở nụ hoa hồng. Nhà mẹ đơn sơ bên bến nước xuôi dòng. Mẹ bỡ ngỡ nhìn tôi như cố nhớ, tôi nói tên mình nước mắt mẹ rưng rưng. Trên bàn thờ phản phất khói hương, hình ảnh người chiến sĩ năm xưa với nụ cười rang rỡ. Mẹ nắm tay tôi nghẹn ngào khẽ nói, tao thấy mầy về tao nhớ nó nhiều thêm.

Nói lối:

Mẹ ứa lệ khi tôi từ giã mẹ 
Cầm tay tôi mà môi mẹ rung rung 
Mẹ chỉ tay về phía cổng làng 
Nơi yên nghĩ thằng bạn mầy ở đó 

Vọng cổ 

Câu 5:

Tôi vào tận nghĩa trang khi nắng chiều vừa nhợt bóng, kỷ niệm xa xưa bỗng dưng chợt đến thuở quê hương lửa dậy bốn phương... trời...
Tôi vẫn còn đây chúng bạn vắng đâu rồi. Đốt mấy
 cây nhang cắm lên nấm mộ, tôi đứng lặng nhìn những chiếc lá vàng bay. Nghe tiếng trống trường vang vọng đâu đây, từng đàn em nhỏ đang rảo bước trên đường về xóm cũ. Lứa tuổi ngây thơ hồn nhiên vô tư lự, sẽ tiếp bước cha anh đi bảo vệ sơn hà.

Câu 6: 

Mấy tiếng chuông chùa vọng đến giữa hoàng hôn, từng đàn cò trắng đang sải cánh bay về tổ ấm. Mảnh đất quê hương hiền hòa nhân hậu, như đón chào người trở lại làng xưa. Nhớ thằng bạn nghèo từng dải nắng dầm mưa, từng diếu thuốc chia nhau giữa vùng lửa đạn. Nay bạn cũ đã muôn đời nằm xuống, để cho non sông mãi mãi được trường tồn.Ôi! Ly rượu mừng như nước mắt quê hương, giọt nước mắt mừng vui ngày tái ngộ. Uống đi bỏ lúc phong trần, giữa đất Tiểu Cần sâu nặng nghĩa tình xưa.

10 tháng 2, 2026

TẾT TRONG KÝ ỨC XA XỨ._Phạm Doanh Môn

 



Thân tặng người bạn tri kỷ một thời: Ngô Đình Thiệp


Ngô Đình Thiệp - bạn tôi- thứ nhất bên trái hàng thứ hai





Gia đình chúng tôi sang Úc từ tháng 9/1992 và định cư tại thủ đô Canberra.

Dù đã xa quê hương khá lâu nhưng mỗi lần nhìn hoa đào nở hay vô tình nghe lại một bản nhạc xuân cũ, lòng tôi lại xao động như có ai chạm nhẹ vào ký ức. Nhớ quá những cái Tết năm xưa. Nhớ những ngày bận rộn mà vui, khi cả nhà tất bật chuẩn bị Tết, còn đám con nít thì chỉ chờ đến khoảnh khắc được mặc đồ mới, được lì xì, được chạy khắp ngõ làng trong tiếng cười giòn tan.

Tết ngày xưa quan trọng lắm. Không phải vì mâm cao cỗ đầy, mà vì nhà nào cũng rộn ràng, bận rộn. Người nào cũng có chỗ để quay về.

Tết này, đã hơn ba muơi năm tôi đón xuân ở thành phố này và Tết Bính Ngọ sắp tới, tôi lại đón xuân ở thủ đô Canberra - thủ đô hành chánh của Úc, một thành phố yên tĩnh, ít nguời Việt, chỉ có khoảng vài nghìn nguời Việt sống rải rác trên chiều dài khoảng mấy chục cây số (1).

Không có chợ Tết, không có mùi nhang trầm, bánh mứt. Chỉ có tôi và bụi hoa đào lặng lẽ ngoài sân vắng.

Tôi cùng quen rồi và không cảm thấy buồn nữa, tuy lòng vẫn thiết tha nhớ về những cái Tết của một thời quê hương cũ, của một thời tuổi trẻ rồi bị biến cố 30/4/1975 cuốn trôi theo những đổi thay nghiệt ngã của đất nước.


Gia đình tôi gốc miền Bắc, sinh sống ở Trung Chánh, Sàigon, sau xuống Rạch Giá. Những nơi này có nhiều người miền Bắc định cư nên Tết thời thơ ấu mang đậm hương vị Bắc.

Mâm cỗ tết miền Bắc, mang đậm nét truyền thống với những món ăn đặc trưng như xôi gấc, bánh chưng, dưa hành muối, nem (chả giò), giò thủ, thịt đông. Đây là những món ăn được lựa chọn để thích hợp với thời tiết se lạnh của mùa xuân miền Bắc.

Ngoài những món cơ bản kể trên, mỗi gia đình có thể bổ sung thêm món bóng xào, gà luộc, canh măng, miến xào mề gà … Tết miền Bắc hơi cầu kỳ nhưng ấm cúng với hoa đào, cây quất …




Mâm cỗ Tết miền Bắc


Sau này gia đình tôi di chuyển về tỉnh Kiến Tường, rồi sau đó lên học ở Sài Gòn, tôi biết thêm Tết miền Nam: phóng khoáng, rộn ràng. Tết đến sớm hơn với nhịp sống sôi động, chuộng màu vàng tươi của hoa mai, hoa vạn thọ …
Về món ăn thì có bánh tét (nhân mặn, ngọt), canh khổ qua nhồi thịt (với mong muốn nỗi khổ sẽ qua đi), thịt kho hột vịt, gỏi ngó sen …
Mâm ngũ quả thường có mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài (cầu vừa đủ xài). Đặc biệt người miền Nam rất coi trọng việc lì xì và chúc tết.






Mâm cỗ Tết miền Nam


Khi đi dạy, tôi có dịp thăm các bạn đồng nghiệp ở miền Trung vào những ngày giáp Tết.

Tôi nhận xét thấy Tết miền Trung có vẻ tinh tế và trang trọng do chịu ảnh hưởng văn hóa cố đô. Món ăn cũng có bánh chưng, bánh tét, các món ngâm mắm (đu đủ, củ kiệu), thịt heo ngâm nước mắm và đặc biệt có món tôm chua. Mâm ngũ quả giản dị mà hài hoà thường có chuối, mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài …





Mâm cỗ Tết miền Trung


Dù Bắc – Trung – Nam mỗi nơi một vẻ, Tết vẫn có những điều chung:

Cúng ông Công, ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp

Tảo mộ: thăm viếng, dọn dẹp mộ tổ tiên trước Tết

Giao thừa: cúng gia tiên, đón năm mới

Chúc Tết & lì xì: chúc nhau một năm mới bình an, may mắn.


Bên nước Mỹ - bạn tôi - Ngô Đình Thiệp. Chúng tôi có thời gian cùng ở Rạch Giá và bạn rất thân thời học trường Đại Học Sư Phạm Sàigòn trứơc 1975. Gia đình bạn qua Mỹ năm 2011 và cư ngụ tại thành phố Garden Grove ở miền Nam California.

Cũng đã hơn hai mươi năm gia đình bạn tôi đón xuân nơi xứ Mỹ. Cũng may, ở Garden Grove có rất nhiều người Việt sinh sống nên có chợ Tết ở khu Phuớc Lộc Thọ, có múa lân, có diễn hành … Bạn tôi kể, còn gần ba tuần nữa mới tới Tết Bính Ngọ mà không khí Tết ở đây đã rộn rã, bàng bạc khắp nơi … Các cửa hàng bán lẻ, các siêu thị Việt Nam … đều đã trưng bày những hình con ngựa nhiều màu, những phong bao lì xì, những hộp bánh mứt, bánh chưng , bánh tét, những hũ dưa hành, củ kiệu … bên cạnh những chậu hoa đào, hoa mai, hoa cúc đủ sắc màu …





Phố hoa Garden Grove rực rỡ áo dài ngày Tết

Bạn tôi cho biết, gia đình bạn đã chuẩn bị tết cả tuần nay: Đã gói xong một số bánh chưng, bánh tét … và làm hơn hai trăm hũ dưa hành muối. Sao nhiều thế? Bạn tôi nói: bà xã và con gái khéo tay nên tết năm nào cũng làm nhiều, trước để gia đình ăn, sau để biếu bà con, bạn bè … còn lại gởi siêu thị, cửa hàng Việt Nam … để bán. Wow!!! Dĩ nhiên bạn tôi cũng là thợ phụ nữa.










Những hũ dưa hành mà gia đình bạn tôi vừa mới làm được bày bán trên các kệ ở các siêu thị Việt Nam ở thương xá Phước Lộc Thọ.

Thán phục quá!!! vì vợ chồng bạn tôi năm nay cũng quá “thất thập cổ lai hy” rồi !

Tôi vẫn còn nhớ, năm vừa qua Thiệp phone chúc tết gia đình tôi. Sau khi chúc xong bạn hỏi tôi Tết ở xứ Kangaroo có gì vui, có gì lạ không? Tôi trả lời vui vui “Cũng vui, cũng vui … nhưng “chả có gì!””. Ít giây sau bạn tôi hiểu và phì cười. Thiệp còn nhớ không?

Xin chúc bạn tôi và gia đình măm mới Bính Ngọ luôn vui khỏe và vạn sự tốt đẹp và đặc biệt :

“Tiền vô như nước sông Đà,
Tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin.”

Canberra những ngày cận xuân Bính Ngọ.

Mai Khánh Thư - Phạm Doanh Môn

21 tháng 1, 2026

VTM 184_Tu _THT

 


Xướng:

Tu 

Nhật Từ, Minh Tuệ chọn đường tu
Đạo hạnh hai sư tạo hoả mù
Biết được thế nào đâu chánh pháp
Làm ơn chỉ dạy thực vô hư

Tu Chùa Tu Bụi cũng là tu
Độ thế cứu nhân xóa trí mù
Mang ánh Đạo Vàng soi vạn nẻo
Trần gian ra rả nhạc vô ưu

Từ, Tuệ , đều là bậc đạo sư
Định thiền tâm sáng rạng Chân Như
Tiếp thu bá tánh niềm An Lạc
Tín Hữu chúng Tăng đạt trí từ

THT
Trí từ 致辭: biểu đạt tư tưởng

Họa 1:

T
u

Khó thấy đời nay một người tu
Tu chùa tu chợ hoặc tu mù
Nhân danh tam bảo làm điều quấy
Chẳng biết thầy chùa hay kẻ hư

Đạo Phật ngày xưa giữ giới tu
Xem kinh thính pháp xóa tâm mù
Quy y tam bảo năng trì niệm
Chứng quả niết bàn nguyện tối ưu

Tu tâm chánh tín bậc thiền sư
Một niệm không hai định nhất như*
Cứu độ chúng sanh về bến giác
Hết lòng lân mẫn trãi lòng từ
Hương Lệ Oanh VA
Jan, 1. 2026

Chú thích:
* Trong Phật giáo, "Nhất như" có nghĩa là
"không hai, không khác", chỉ cái lý (chân lý) tuyệt đối, bình đẳng, không phân biệt của vạn vật, tức là tính chất Chân Như (thể tính ổn định, thường hằng, vượt ngoài nhận thức) của mọi sự vật hiện tượng (các pháp). Nó nhấn mạnh sự hợp nhất, tính đồng nhất của vạn pháp trong một thể tánh duy nhất

Lân (憐): Sự thương xót, động lòng trắc ẩn, thấy người khó mà lòng mình cũng xót xa
Mẫn (愍): Sự cảm thương lo lắngcho người khác, mong muốn họ được an vui

Họa 2:

Khoác áo tu


Hiện tại nhiều người khoác áo tu
Chân dung đức hạnh khói đen mù
Quốc doanh trà trộn người chánh đạo
Không thể nhận ra đấng thực hư

Khoác áo cà sa chưa hẳn tu
Giả sư mưu mẹo chốn sương mù
Bao nhiêu thí chủ đều lầm lẫn
Oán trách ai đây chịu chẩn ưu

Ngày xưa luôn có bậc chân Sư
Bá tánh luôn luôn giữ khuyết như
Hướng thiện giúp đời theo đạo lý
Cứu nhân độ thế với tâm từ
TLP 

chẩn ưu 軫憂: trăn trở phiền muộn.
khuyết như 闕如: còn ngờ thì không nói; không biết thì không viết.

Họa 3:

Chữ tu

Trong chốn trần gian vạn phép tu,
Tu tâm sửa tánh, sáng thay mù.
Tu thân giữ hạnh gieo hòa ái,
Tu núi lánh đời lắm huyễn hư.

Am cốc luyện thần cũng cách tu,
Non cao động vắng khói mây mù.
Cũng cần ẩm thực nuôi thân xác,
Trèo xuống trèo lên dạ chớ ưu.

Tu chùa tu cốc cũng là sư,
Sông suối hợp về một biển như.
Xoay chuyển nhân tâm về tính thiện
Trần gian cảm tạ vạn ngôn từ.
Minh Tâm

Họa 4:

Mở dạ đồng tu

Dẫu khác căn duyên khác pháp tu
Nhưng chung chuyển tánh sửa mê mù
Rời tham bỏ hận rèn tâm trí
Khởi tuệ từ sanh rõ thực hư

Đạt đạo luôn tùy ở hạnh tu
Càng tham đắm lợi dễ sa mù
Hằng tâm mẫn niệm vào chuyên pháp
Ngộ lý chơn thường thoát khổ ưu

Tâm đồng tín chúng lẫn môn sư
Vô trụ rời tham quán nhất như
Dụng chuyển tri hành khơi chánh niệm
Tùy duyên tuệ khởi trí tâm từ.
TQ
https://www.youtube.com/watch?v=o_psvlkCBDM
https://www.youtube.com/watch?v=OlDeCdbdXlo


1. Tân nhạc: Cát bụi vương trần
Sáng tác: Đặng Anh
Ca sĩ: Thùy Dương

https://www.youtube.com/watch?v=5UnZmoLnmP4

1. Ta là cát bụi giữa đời trầm [Em] luân
Sinh tử biệt ly vô thường kiếp [Am] người
Đời [D] như một thoáng mây [G] bay
Mà [Em] ta nào biết nào [Am] hay
Sao cứ [D] mãi gây hận thù [B7] lây.

2. Cớ sao ta lại sống lừa gạt [Em] nhau
Toan tính tình thâm vì một chữ [Am] tiền
Giàu [D] nghèo rồi sẽ như [G] nhau
Hơn thua [Em] và bạc bẽo nông [Am] sâu
Mai kia [B7] thác mang được gì [Em] đâu.

ĐK:
Đời như chiếc [C] lá gió [D] bay cuốn về [G] xa
[Em] Cuộc sống mong [Am] manh sao [B7] cứ mãi tranh [Em] giành
[D] Sao cứ lọc [Bm] lừa [D] dối trá điêu [G] ngoa. [B7]

[Em] Đời là bể [C] khổ mấy [D] ai biết người [G] ơi
[Em] Hãy sống yêu [Am] thương trong [B7] cõi tạm vô [Em] thường
[D] Để kiếp hồng [Bm] trần con [D] người bớt khổ [G] đau
[Bm] Để mãi cuộc [D] đời không [B7] u sầu vì [Em] nhau.

3. Bánh xe luân hồi như ngàn lời [Em] khuyên
Xin hãy yêu thương chia sớt muộn [Am] phiền
Đừng [D] nên chua chát mặn [G] môi
Cho đi [Em] là còn mãi mà [Am] thôi
Hãy nhớ [B7] ta là cát bụi trùng [Em] khơi.


2. Cổ nhạc: Đạo và Đời
Sáng tác : Phạm phúc Toại
Nghệ sĩ: Lê Tứ







18 tháng 1, 2026

Âm thầm_Hương Lệ Oanh VA

 

Tháng 4/2025 

75-25=50 

Đã 50 năm những ai cùng thế hệ có nghe lòng mình trăn trở nhớ lại thời niên thiếu trước đó mà lưu luyến tình thương không!?

Nhất là mẹ♥️

Mẹ tôi ra đời 1 ngàn không trăm lẻ mấy 

Nghe mẹ kể cuộc sống người phụ nữ miền nam từ thời pháp thuộc và các triều đại hồi đó! 

Mẹ đùm bọc chịu thương chịu khó nuôi các con nên người!

Thương lắm!

Hình ảnh mẹ♥️

Không phải là nhạc sĩ nhưng tôi có bài viết nhờ Suno phổ nhạc để trãi tâm từ mẹ của tôi nhân cách hóa là mẹ Việt Nam!

Hương Lệ Oanh VA


Hình vườn hồng của nhà Hương Lệ Oanh VA

13 tháng 1, 2026

Ai là dịch giả Chinh Phụ Ngâm Khúc_Maurice Durand



Chinh phụ ngâm khúc

Tác giả: Maurice Durand
Người dịch: Phan Tấn Khôi



Phan Tấn Khôi tốt nghiệp Đại học Sư phạm Saigon, ban Pháp văn, năm 1963 và Cao học Nghiên cứu giáo dục, Đại học Sư phạm Saigon, năm 1972.

VÀI HÀNG VỀ TÁC GIẢ MAURICE DURAND
Sinh tại Hà-Nội vào tháng tám 1914, Maurice Durand là con trai của Gustave Durand, chánh phòng dịch thuật tại Tòa Án kiêm giáo sư tiếng Tầu tại Đại-học, và của Nguyễn Thị Bình người gốc tỉnh Kiến-An, ở phía đông châu thổ Sông Hồng. Do đó ông đã được nuôi dưỡng vừa bằng tiếng Pháp vừa bằng tiếng Việt, và dĩ nhiên hai nền văn hóa đó đã in sâu vào đời sống và sự nghiệp của ông. Sau một học trình tại trường trung học Albert Sarraut Hà-nội, Maurice Durand đã tiếp tục theo học tại Pháp nơi ông đạt được văn bằng cử nhân văn chương, kế đó Chứng chỉ Cao học (Loti et Extrême-Orient, 1937} trước khi đi phục vụ chiến trường Phi-châu. Năm 1946, Maurice Durand trở lại Việt Nam làm giáo sư trung học và năm 1949, trở thành hội viên thường trực của Trường Viễn đông Bác cổ Pháp. Từ năm 1954 tới năm đóng cửa 1957, ông là Giám đốc trung tâm Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà-nội.
Trở về Pháp, ông tiếp tục nghiên cứu văn học Việt-nam và giao tất cả các tác phẩm của ông cho Trường Viễn đông Bác cổ Pháp in. Trong số đó phải kể dến Connaissance du Việt Nam, 1954; La transcription de la langue Vietnamienne et l'oeuvre des Missionnaires Français, 1961 v.v...
Kể từ năm 1964, Maurice Durand bắt đầu đau nặng và sau nhiều cuộc giải phẫu, ông mất vào tháng tư 1966, ở vào tuổi 53. Ông để lại một tập bản thảo đang nghiên cứu dở dang về những bài thơ bằng chữ Nôm hiển nhiên là nguồn gốc của cuốn "L'Univers des Truyện Nôm", 1998 này.

CHINH PHỤ NGÂM KHÚC
Đây là một bài thơ bằng chữ Nôm mà nhân vật chính là vợ một người lính đi chinh chiến vùng xa đã từ nhiều năm. Bà thốt ra những lời than thở dài về những nỗi đau đớn của sự chia ly, sự chờ đợi, niềm hy vọng. Bản gốc của bài thơ đã được Đặng Trần Côn soạn thảo vào năm 1740 bằng thơ chữ Hán. Những bản thích nghi và mô phỏng bằng tiếng Việt (ghi chép lại bằng chữ nôm) có rất nhiều. Bản văn phổ cập nhất cho tới những năm gần đây được coi là của một nữ sỹ rất nổi tiếng Đoàn Thị Điểm. Năm 1953 trong một bài nghiên cứu rất đầy đủ về bài thơ này có tựa là Chinh phụ ngâm bị khảo (Minh Tân, Paris), ông Hoàng Xuân Hãn đã muốn chứng minh bản chữ nôm thường được coi là của bà Đoàn Thị Điểm thật ra là tác phẩm của một trong những vị quan lớn ở cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, Phan Huy Ích (1750-1822). Nhiều văn bản khác bằng chữ nôm được gán cho bà Đoàn Thị Điểm (1705-1748), cho Nguyễn Khản (17341786), anh lớn của Nguyễn Du (tác giả Kim Vân Kiều).
Những vấn đề đặt ra cho Chinh Phụ Ngâm đều được bàn cãi rất chi tiết trong tác phẩm nêu trên của ông Hoàng Xuân Hãn. Chúng tôi đã cho ra một bản dịch cuốn Chinh Phụ Ngâm bằng thơ Hán cùng những lời ghi chú của Đặng Trần Côn qua tiếng Pháp trong Bản tin của Hội Nghiên cứu Đông Dương, Saigon, quý 2, 1953. Văn bản chữ Nôm thường gán cho bà Đoàn Thị Điểm đã được Hoàng Xuân Nhị dịch ra tiếng Pháp dưới tựa đề "Plainte d'une chinh phụ" (Mercure de France, 1939), được Bùi văn Lăng dịch dưới tựa đề "Complainte de la femme d'un Guerrier" (Editions Alexandre de Rhodes, Hanoi, 1943), được Huỳnh Khắc Dụng dịch dưới tựa đề "Femme de Guerrier (élégie)" trong Bản tin của Hội Nghiên cứu Đông Dương, Saigon, quý 3, 1955.
Chúng tôi cũng có một bản tiếng Anh "Warrior's wife's plaintive ballad" do Phạm Xuân Thái dịch, in tại Saigon năm 1948. Một bản tiếng Pháp do Georges Cordier dịch bài thơ được gán cho bà Đoàn Thị Điểm trong Bulletin de la Société d'Enseignement Mutuel du Tonkin, số XIII, trang 32-59 dưới tựa đề: Chinh phụ ngâm de Đặng Trần Côn, traduit en Nôm par Đoàn Thị Điểm.

Bà Đoàn Thị Điểm sống vào thế kỷ XVIII. Những chi tiết về tiểu sử của bà được thấy trong cuốn Tang thương ngẫu lục (Những ghi chú khác nhau về một thời kỳ bấp bênh) đã cung cấp nhiều chi tiết quý báu về phong tục và con người của thời kỳ nhà Lê (1428-1789). Những tác giả của cuốn sách đó là Phạm Đình Hổ (1768-1839) và Nguyễn An (1770-1815). Người đầu tiên là một nhà văn học nổi tiếng và một văn sĩ đa dạng mà tài năng diễn tả cùng dễ dàng bằng tiếng Việt hay bằng tiếng Hán. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về cách tổ chức hành chánh và địa lý vào cuối đời nhà Lê cũng như những bản dịch và phê bình các bài văn Hán cổ điển. Người thứ hai cũng là một nhà văn học nổi tiếng và có kiến thức văn hóa sâu rộng. Ông theo triều đình nhà Nguyễn và chết trẻ khi còn đang làm quan huyện phủ Kiến An.
Cuốn Tang thương ngẫu lục rất có thể đã được hình thành vào cuối thế kỷ XVIII. Trường Viễn đông Bác cổ Pháp sở hữu một bản in năm 1896, (số thư viện A.218). Chính trong tiểu sử của Đặng Trần Côn tác giả bản văn Hán Chinh phụ ngâm, theo đó bà Đoàn Thị Điểm đã hình thành bản dịch ra chữ nôm, mà chúng tôi tìm thấy vài điều nói bóng gió về nữ sĩ. Người ta có nhiều chi tiết phong phú hơn nữa trong cuốn Đoàn-Thị thật lục (Lịch sử thật sự của nhà Đoàn-Thị) do cháu bà, Đoàn Doãn-Y, là con trai của người anh Đoàn Doãn, biên soạn. Cha của bà là Đoàn Doãn Nghi. Gia đình bà tên là Lê cho tới đời cha bà. Ông này thi Tam giáp không đậu, bỏ làng quê hương, Giai-Phẩm (nay là Hiến-Phạm), huyện Văn Giang, tỉnh Kinh Bắc (nay là Bắc-Ninh), để cư ngụ tại Thăng-Long, làm chủ trường. Tại đó, ông lập gia đình với một người con gái dòng họ Võ đã sinh cho ông Đoàn Doãn Luân và Đoàn Thị Điểm (sinh năm 1705).
Năm 1720 quan thượng thư Lê Anh-Tuấn nhận bà làm con nuôi và muốn đưa bà vào phủ chúa Trịnh, nhưng Đoàn Thị Điểm từ chối và theo cha và anh bà đến làng Lạc-Viên, huyện Yên-Dương, tỉnh Kiến An, nơi họ mở một trường dạy học. Năm 1729 vào lúc 25 tuổi, bà mất cha và cùng với mẹ và anh đưa linh cữu cha về làng quê quán gốc. Kế đó, bà theo người anh đi dậy học tại làng Vô-Ngại, huyện Đường-Hào (nay là Mỹ-Hào) trong tỉnh Hưng-Yên.
Anh bà lập gia đình với con gái vị tiến sĩ Lê Hữu-Mưu. Còn bà từ chối nhiều mối và sống với mẹ và anh. Sau đó người anh chết để lại đàn con và người vợ ốm yếu. Bà Đoàn Thị Điểm lo săn sóc đàn con và mẹ của chúng. Bà hành nghề bốc thuốc bắc để nuôi sống cả đại gia đình. Kế đó bà làm công việc dạy kèm cho đám con gái của một ái thiếp Chúa Trịnh.
Dưới thời Trịnh-Giang (1729-1740) sau những biến cố của năm 1739, bà rời gia đình từ Vô-Ngại đến ở gần thủ đô, vùng Chương Dương. Năm 1743 bà lập gia đình với một nhà văn học lớn Nguyễn-Kiều. Một tháng sau đám cưới, chồng bà phải đi sứ sang Tầu và Đoàn Thị Điểm đã phải chờ đợi ba năm ròng rã, trong thời gian đó bà lo săn sóc nhà cửa vừa nóng lòng chờ đợi ngày trở về của người vắng mặt. Người ta coi quãng thời gian đó của cuộc đời bà Đoàn Thị Điểm đã ảnh hưởng rất nhiều nguồn cảm hứng của nữ dịch giả cuốn Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Những vần điệu rất xúc động bà đã đặt vào bản dịch đến từ những gì tự bà đã trải qua tất cả những đau khổ mà một người đàn bà đang yêu thương có thể đau khổ vì phải xa cách người chồng. Năm 1745, Nguyễn-Kiều từ Tầu trở về và hai vợ chồng vui sướng trong niềm hạnh phúc gặp lại nhau.
Nos coupes s'empliront au fur et à mesure
Nos voix fredonneront strophe après strophe
Nous chanterons chacun des pơésies très douces
Et boirons du vin, l'un en face de l'autre
Avec vous mon amour je pourrai renouer
Jusqu'au bout de ma vie notre fil d'hyménée

Sẽ rót vơi lần lần từng chén
Sẽ ca dần ren rén từng thiên
Liên ngâm đối ẩm đòi phen
Cùng chàng lại kết mối duyên đến già
Đoàn Thị Điểm
(Câu 405-408, bản dịch Huỳnh Khắc Dụng)
Sự vui mừng được gặp lại nhau không chỉ biểu hiện bằng đời sống yêu đương thông thường trải qua với nhau suốt quanh năm ngày tháng, nhưng đối với hai người văn học cao và tài năng siêu việt như Đoàn Thị Điểm và Nguyễn Kiều thì còn bằng những buổi trao đổi văn thơ qua đó, nếu người ta tin vào truyền thống, Đoàn Thị Điểm thường tỏ ra trội hơn chồng. Đời sống hạnh phúc đó chấm dứt vào năm 1748. Năm đó Nguyễn Kiều đưọc bổ dụng vào Nghệ-An phải đi đến nhiệm sở mới, ông dẫn vợ đi theo. Bà vợ lâm trọng bệnh trong buổi du hành và mất sau khi tới Nghệ-An vào ngày 11 tháng 9, thọ 44 tuổi.
Bà Đoàn Thị Điểm biên soạn nhiểu nhất là bằng chữ Hán, nhưng các bài thơ hay các tập thơ của bà không tới tay chúng tôi. Trái lại người ta gán cho bà tập truyện Tục truyền kì là tập tiếp theo tập truyện nổi tiếng Truyền kì mạn lục của Nguyễn-Dữ. Tập truyện này gồm Bích câu kỳ ngộ, Hải Khẩu linh từ, Vân-Cát thần nữ, Hoành sơn tiên cục, Yên-ấp liệt nữ, Nghĩa trượng Khuất-Miêu. Những tựa đề này là do E. Gaspardone ghi lại trong BA.133 của ông, ông nhấn mạnh đó là những tựa đề do Phan Huy-Chú (1782-1840) gán cho Nguyễn Thị Điểm (có nghĩa là Đoàn Thị Điểm). Nhưng ông có lý khi ghi thêm nội dung các tác phẩm đó không phải tất cả đều đồng ý với sự gán ghép đó. Thật vậy cuốn Nam sử tạp biên chỉ cho bà là tác giả chuyện kể Hải Khẩu linh từ, Vân cát thần nữ và Yên-ấp liệt-nữ thôi.
Lần xuất bản năm 1811 của cuốn Tục truyền ký, dưới tựa đề Truyền kì tân phả cho biết là bà Đoàn Thị Điểm chỉ là tác giả ba truyện kể đó thôi.

Bằng chữ Nôm bà Đoàn Thị Điểm đã để lại cuốn Chinh Phụ ngâm khúc trong bản thường được biết đến. Hoàng Xuân Hãn đã thử chứng minh là bản đó không phải của Đoàn Thị Điểm mà là của Phan Huy Ích. Ông nêu ra ba lý do chính là:
- Chúng ta biết Phan Huy Ích là tác giả một cuốn Chinh phụ ngâm.
- Một hậu duệ của Phan Huy Ích, Phan Huy Chiêm đã gửi một lá thư năm 1926 tới báo Nam Phong quả quyết là cuốn Chinh phụ ngâm đã được tổ tiên của ông là Phan Huy Ích dịch và ông còn giữ được bản văn bằng chữ nôm và bản văn bằng quốc ngữ.
- Bản dịch của Phan Huy Ích thật nhẹ nhàng, được viết theo một ngôn ngữ phổ thông, dễ hiểu cho mọi người và cuốn Gia phả họ Phan viết: "ông đã dịch Chinh phụ ngâm khúc. Ngày nay, từ những người nổi tiếng, những văn nhân, cho tới giới trẻ vùng nông thôn, ai là người đã không đọc truyện đó".
Tuy nhiên, Hoàng Xuân Hãn chỉ nhận được từ Phan Huy Chiêm bản văn bằng quốc ngữ rất giống như bản văn thông thường, cho tới ngày nay, được coi là của bà Đoàn Thị Điểm. Cho đến khi mà những chứng cớ chính xác hơn chưa được nêu ra, có lẽ chúng ta nên tỏ ra khôn ngoan hơn bằng cách gìn giữ truyền thống đã gán cho bà Đoàn Thị Điểm bản dịch nổi tiếng nhất.
Dù sao cái giá trị của bài nghiên cứu tìm tòi rất kỹ càng của Hoàng Xuân Hãn là đã làm sáng tỏ tính chất phức tạp những vấn đề đặt ra do số đông bản chữ nôm của Chinh phụ ngâm. Thật vậy, ông đã nghiên cứu và đưa ra sự ghi lại bằng quốc ngữ của tám văn bản đều có tựa đề "Chinh phụ ngâm".
Văn bản thứ nhất ông gọi là bài A người ta đã gán cho bà Đoàn Thị Điểm mà ông thì gán cho Phan Huy Ích, bao gồm 408 câu thơ song thất lục bát. Văn bản này đã được in tại phố hàng Gai ở Hà nội, người ta không rõ năm chính xác của ấn bản thứ nhất, nhưng dường như văn bản đã được in ra trước thời Tự-Đức. Thư viện Trường quốc gia Ngôn ngữ Đông phương tại Paris có giữ một bản có lẽ được in dưới trào Tự-Đức. Bản này đã biến mất khỏi thư viện này. Ấn bản xưa nhất mà Hoàng Xuân Hãn tìm được là ấn bản được in vào năm 1910 do nhà in Trường thịnh- đường dưới tựa đề "Chinh phụ ngâm", Bản dịch này đã được Vũ Hoạt sửa đổi chút đỉnh năm 1902 và cho in với nhà Long Hòa ở phố hàng Thiếc Hà nội, ba truyện thơ Chinh phụ ngâm, Phan Trần và Cung Oán dưới tựa đề Danh gia quốc âm (Những tác giả nổi tiếng chữ Nôm). Cũng vậy Trường Viễn đông Bác cổ sở hữu một Chinh phụ ngâm của Hồng Liệt Bá trong tập Thi ca nam âm (Thi và Ca bằng tiếng Việt) (AB 164).
Văn bản A này đã được ghi lại bằng quốc ngữ và do Trương Vĩnh Ký xuất bản lần thứ nhất năm 1887 trong những ấn bản của Trường Thông dịch viên tại Saigon. Kể từ thời đó, những ấn bản bằng quốc ngữ trở nên dồi dào và quảng bá rộng rãi. Theo những văn bản thuộc truyền thống đó, vài bản dịch tiếng Pháp đã được hoàn thành như bản của Hoàng Xuân Nhị "Plaintes d' une chinh phụ" tại nhà Mercure de France (1939), bản của Bùi văn Lang "Chinh phụ ngâm" tại nhà Alexandre de Rhodes Hanoi 1943 và bản mới nhất và hay nhất của Huỳnh Khắc Dụng trong bản tin của Hội Nghiên cứu Đông dương năm 1955.
Bài B mà Hoàng Xuân Hãn gán cho bà Đoàn Thị Điểm gồm 496 câu thơ song thất lục bát. Bài này dài hơn bài A, theo sát văn bản chữ Hán của Đặng Trần Côn, do đó tỏ ra ngây ngô hơn, kém tính chất cá nhân, lệ thuộc hơn vào bản văn mà bà đã dịch.
Văn bản thứ ba, bài C gồm 440 câu thơ song thất lục bát theo Hoàng Xuân Hãn có thể là của Nguyễn Khản anh của Nguyễn Du (tác giả Kim Vân Kiều).
Bản dịch thứ tư, bài D không có tác giả và dựa trên một văn bản nôm ở tình trạng hư hại.
Bản dịch thứ năm, 246 câu thơ lục bát, bài E dựa trên một văn bản nôm của nhà văn học họ Nguyễn, gốc người Bạch liên Am, tác giả cuốn Cung Oán Thi mà chúng ta đã thấy.
Sau cùng bản dịch chót dựa trên bài F, tác giả vô danh mà bản Nôm theo khá sát bản Hán văn của Đặng Trần Côn. Bản này tương ứng với bản của tác phẩm AB, 650 của Trường Viễn đông Bác cổ và gồm 200 câu thơ lục bát.

Dưới cái tựa Chinh phụ ngâm Trường viễn đông Bác cổ (mã số AN 55) có một bài thơ 77 câu lục bát, ngoại trừ ba câu đầu theo thể 4-4-7 (hoặc 8-7 cũng được)
Trời đất một vầng
Bắc nam đôi ngả
Phận hồng nhan buồn bã thiếp lo
Bài văn này không hẳn là một bản dịch mà là một sự biến đổi về đề tài sự xa cách của vợ chồng, người chồng phải đi chinh chiến. Dĩ nhiên người ta nhận ra được ảnh hưởng của bài chữ Hán hoặc của những bản dịch qua chữ nôm Tuy nhiên, người ta không thể lượng định giá trị và ngôi thứ của nó trong lịch sử những bản dịch và bản chuyển thể Chinh phụ ngâm cho đến khi nào người ta tìm ra những thành phần giúp nhận dạng tác giả hay thời gian biên soạn. Cùng một văn bản được thấy dưới tựa đề Chinh phụ từ.
Một bài thơ khác mang tựa Chinh phụ tự tình (Lời thú nhận của người chinh phụ) nằm trong tập AB.348 của Trường Viễn đông Bác cổ, gồm 185 câu xếp đặt theo một vận luật thay đổi trong đó những đoạn bốn câu thường được viết bằng Hán-Việt trong khi những đoạn khác (trôn lẫn 6, 7, 8, 9 âm tiết) thì bằng Nôm.
Bắc phương thệ thệ
Vũ tuyết phê phê
Thái phồn kỳ kỳ
Ngã tâm thương bi
Trống lầu thu như dục xuân đi
Tiếng quyên vẳng hơi hè lại gáy

Le vent du Nord est froid froid
La pluie et la neige tombent tombent
L’aurore croit en abondance
Mon coeur est plein de douleur
Le tambour de la tour, en automne, semble
presser le printemps de se mettre en marche
Le chant du coucou qui s' était éloigné, aux
effluves de l’été, recommence à retentir.
Chúng ta cảm thấy bài này như là một trò giải trí của một nhà văn học lấy làm thích thú trộn lẫn chữ Nôm và chữ Hán, hình thức thơ văn Hán và Việt, cảm hứng cổ điển và văn chương bình dân như là những câu 66 và 67 cho thấy sự đổi ngược một cặp thơ bình dân tại Vietnam.
Con cò lặn lội bờ sông
mà chúng ta hiểu là: Le héron plonge au bord du fleuve
Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Je porte une charge de riz pour mon mari et je vais pleurant et me lamentant

Tất cả những bản bằng chữ Nôm của Chinh phụ ngâm dù sao cũng đều là những bản dịch hoặc biến đổi bài văn của Đặng Trần Côn mà chính ông đã soạn thảo từ một kết hợp những trích đoạn thơ Hán và thay đổi và sắp xếp lại một cách tài tình có nghệ thuật. Người ta có thể thích thú tìm kiếm trong những bài văn thơ Tầu đời Đường và những triều đại khác câu thơ này hay đoạn thơ kia đã gây hứng thú cho Đặng Trần Côn. Người ta có thể, ngoài những ảnh hưởng văn chương, tìm lại những chủ đề gây cảm hứng. Trong một phụ lục của cuộc nghiên cứu về Đặng Trần Côn, chúng tôi đã thử chứng minh vài sự so sánh bằng cách làm một sự lựa chọn trong những bài thơ Tầu của tập học sinh Ba Trăm bài Thơ đời Đường của nhà in Kouang-yi chou-kia yin-hing tại Chang-Hai và trong bộ sưu tâp những bài thơ có chú giải của Hội Wen Minh tại Chang-Hai. Những chủ đề về sự chờ đợi của người vợ chinh phu, những gói quà gửi cho chiến binh, sự xa cách, những biên giới, sự buồn rầu của con chinh phu, đều được khai thác bởi Che Wou (Thi Vũ), Lieou Tsi (Lưu Tích) đời Minh, Li Po (Lý Bạch), Lou Louen (Lư Luân), Si Pi jen (Tây Bỉ-nhân), Tchang Tsi (Trương Tịch), Han Wou (Hàn Ốc), Wei Tch'eng k'ing (Vi Thừa Khánh), Kiuan Tô-yu (Quyền Đức Dư) đời Đường, vân vân... Nhất là Li Po trong Sáu bài Thơ vùng Biên Giới Sai hia k'iu lou (Tái hạ khúc lục) và trong cuốn Sai Chang k'iu đã gây nhiều cảm hứng cho Đặng Trần Côn. Chúng ta cũng cần thêm vào Tou Fou (Đỗ Phủ) trong một bài thơ giống như bài có tựa đề Sin houen pie (Tân hôn biệt) (Sự chia cách hai vợ chồng mới cưới) trong đó vợ người chinh phu than thở ngày khởi hành và sự vắng mặt của chồng bà Người lính chiến giữ vùng biên giới Ho-yang (Hà Dương) nơi đó đươc coi là đất chết. Người vợ mong muốn số phận loài chim để có thể luôn luôn sống cạnh chồng:
Je renverse la tête et je vois les oiseaux voler
Grands et petits ils prennent leur essor par couples
(Tôi ngửa đầu và tôi thấy những con chim đang bay
Lớn và bé chúng đều tung bay từng cặp)
Về vấn đề này người ta cũng có thấy cuốn Ping tch"e hing (Binh xa hành) (Bài ca những chiến xa) trong đó mô tả những đống xương người chết bỏ lại trên chiến trường.
Trường Viễn đông Bác cổ có sở hữu một cuốn Chinh phụ ngâm bị lục dưới mã số AB. 26, gốm 412 câu song thất lục bát và mang những dấu hiệu sau: thời gian in được tính theo chu kỳ hàng năm Nhâm dần của Thành Thái, ngày Hoa Cúc (Tháng mười 1902) do nhà in Long Hòa (Long-Hòa hiệu tàng bản). Nhà in chỉ cho thấy Đặng Trần Côn là tác giả của bản chính gốc: Thanh Trì Nhân mục, Đặng Trần tiên sinh Côn trước (Đặng Trần Côn của Nhân-mục, của Thanh-Trì biên soạn) và Đoàn Thị Điểm là tác giả bản dịch bắng chữ nôm (Bà Đoàn thị Điểm của Trung-Phú, của Văn-Giang đã dịch). Sau cùng có vẻ tác phẩm được xuất bản đã được Đồng Phong của Thần Khê (bí danh) thông báo hoặc chính người này đã lo việc in ấn.

GHI CHÚ VỀ PHAN HUY ÍCH
Chúng ta đã thấy là một bản dịch bằng chữ Nôm của Chinh phụ ngâm do Đặng Trần Côn soạn thảo bằng chữ hán, đã có thể có Phan Huy Ích (1750-1822) là tác giả.
Người này mà tự là Khiêm Thụ Phủ, hiệu Dụ Am có gốc làng Thu Hoạch, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà tĩnh. Ông là con Phan Huy Cẩn đậu tiến sĩ năm 1754 phục vụ trong ngành quan lại tại Thăng Long rồi lui về ở làng Thụy Khê, huyện An Sơn, tỉnh Sơn Tây.
Phan Huy Ích tỏ ra có trí thông minh phát triển sớm. Ông học dưới quyền giám sát của cha ông, cũng như dưới quyền Ngô Thời Sỹ và thi đỗ kỳ thi tỉnh Nghệ-An năm 1771, sau đó kỳ thi Tam Giáp năm 1775.
Làm việc với Trịnh Sâm (1762-1782), ông có dịp bắt liên lạc với Nguyễn Nhạc, thủ lãnh Tây Sơn.
Khi nhà Tây Sơn lên nắm quyền, Ích cùng với anh rể Ngô Thời Nhậm phục vụ chính quyền mới và được giao nhiệm vụ lo các mối liên lạc ngoại giao với Trung quốc nhà Đường. Cả hai đều thành công làm dân Tầu phải nể phục Việt Nam. Trong sự nghiệp hành chánh dưới trào Tây Sơn, Phan Huy Ích đã đạt tới hàng Lễ Bộ thượng Thư năm 1801. Khi nhà Nguyễn thống nhất đất nước, Phan Huy Ích quay lại với họ nhưng dù sao ông cũng phải chịu hình phạt đánh đòn trước khi được ân xá.
Ông lui về ở núi Sài Sơn trong vùng Sơn Tây, nơi ông sống như một thầy đồ. Tuy nhiên vì ông có kinh nghiệm trong vấn đề liên lạc ngoại giao với Trung quốc, các hoàng đế nhà Nguyễn, Gia Long và Minh Mạng đều tham khảo ông khi cân thiết... Ông mất năm 1822 thọ 73 tuổi.
Nhà học thức lớn đó đã để lại một tập thơ bằng chữ Hán tựa đề "Dụ-Am ngâm-tập" và một tập gồm những bài văn xuôi tựa đề "Dụ-Am văn tập" trong đó các bài văn đều được trình bầy theo thứ tự thời gian. Trường Viễn đông Bác cổ có đủ các bài văn đó trong một tập tựa đề Dụ-Am thi tập (A. 603-604).
Những văn bản ngoại giao của ông được gom góp trong cuốn Bang giao tập (Tuyển tập những văn bản về những mối liên lạc ngoại giao) EFEO, A.691. Sau cùng một tập thơ Cúc Đường bách vịnh thi tập (Tuyển tập trăm bài ca tụng Cúc Đường) EFEO, A.1168, và một tập khác, Tinh sà kỷ hành EFEO, 1383.
Ông rất nổi tiếng qua những bài văn tế bằng chữ nôm mà ông đã soạn thảo phần lớn nhân dịp đám ma của gia đình hoàng gia nhà Tây Sơn và qua bản dịch Chinh phụ ngâm (Lời than vãn của Hôn thê một Chiến binh) của Đặng Trần Côn.
Chúng ta hãy kể ra trong số những bài văn tế lên tới một chục bài :
văn tế vua Cảnh Thịnh
văn tế con gái vua Quang Trung
văn tế mẹ Công chúa Ngọc Hân, vợ vua Quang Trung
văn tế một thành viên của gia đình hoàng gia nhà Lê
văn tế công chúa Ngọc Hân qua một người thân
văn tế những đại tướng và binh lính tử trận
văn tế những đại tướng và binh lính nhân dịp ngày rằm tháng bẩy
văn tế có tựa đề Công chúa chư nha điện văn
Trong số những bài thơ nôm của Phan Huy Ích người ta có thể kể:
Tiễn quan trấn thủ
Nhớ quan trấn thủ
Mừng quan trấn thủ về dinh mới
Tháng chạp, trở về núi, họa lại những vần thơ của quan Tổng đốc (Lạp trung hồi sơn, họa Trấn quan tiễn vận)

Về cuốn Chinh phụ ngâm, ý kiến những nhà phê bình việt nam không đồng ý với nhau. Một số người (Nguyễn Hữu Tiến, Nam Phong, số 108 theo sau Hoàng Xuân Hãn, như trên) nghĩ là văn bản thường được coi là của bà Đoàn Thị Điểm, trên thực tế có lẽ là của Phan Huy Ích. Một số khác (Phạm văn Diêu) nghiêng về bản B do Hoàng Xuân Hãn trình bầy như là bản của Phan Huy Ích. Cái chắc chắn là, cho tới khi có chứng cớ mới, quan điểm của Nguyễn Hữu Tiến và Hoàng Xuân Hãn chưa được chính thức chấp nhận.
Maurice Durand
"L'Univers des Truyện Nôm"
(Ecole Française d'Extrême-Orient, 1998)


Ghi chú:
(1) Đối với mọi chi tiết bổ túc hãy xem những lời giới thiệu và phần mở đầu của những tác phẩm đã kể trên – cũng nên xem Phan Huy Ích, Chinh phụ ngâm trong Nam Phong, tháng sáu 1926, tr. 494-495 và Bulletin de l’AFIMA, tháng 7 – 12, 1941, số 4, tr. 52
(2) Xem Maurice Durand “La complainte de l’Épouse du guerrier de Đặng Trần Côn”, BSEI, quyển XXVIII, số 2, quý 2, 1953
(3) Quan Tiến sĩ,sinh năm 1694 ; mất năm 1734, LTHC, A. 50, tr.20
2, cột 7.
(4) Nguyên quán Liêu-xá, quận Đường-hào, ông đậu tiến sĩ lúc 36 tuổi năm 1710 đạt tới chức Thị-Lang, ĐVLTĐKI, A1387, quyển 3, f*1b, cột 3.
(5) Nguyên quán làng Phú-Xá, quận Tử-Liêm, ông sinh năm 1695; năm 18 tuổi ông đậu giải-nguyên, có nghĩa là người đứng đầu các cử nhân; vào năm 1715 lúc 21 tuổi, ông đậu tiến-sĩ, vào năm 1717ông được phong đốc-đông (tổng đốc) tỉnh Tuyên-Quang. Năm 1734, ông là Ngự-sử tỉnh Nghệ-an, kế đó vào năm 1736 là thống-đốc. Năm 1742 ông được phong Đại-sứ đầu tiên bên Tầu, vào cuối năm 1743 ông lên đường, năm 1744 ông tới Bắc-kinh, năm 1745 ông trở về Kouang-si nơi ông chờ đợi một thời gian trước khi có thể về hẳn Việt-nam. Năm 1748 ông lại được bổ nhiệm ra Nghệ-an. Ông mang theo bà vợ Đoàn Thị Điểm và bà mất sau khi đi tới Nghệ-An. (ĐVLTĐKL, A.1387, tập 3, cột 8 và Hoàng Xuân Hãn, CPNBK, tr.34 và tiếp theo). Nguyễn Kiều góa hai đời vợ trước, một với con gái của Lê Anh Tuấn người cha nuôi của Đoàn Thị Điểm, hai với con gái của Nguyễn Quí Đức (1648-1720) người cùng với Lê Hi (1646-1702) đều là tác giả của tập 19 cuốn Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lại những biên niên Việt-nam từ 1663 đến 1675 (Xem Dương Quảng Hàm, tr. 270 và nhất là Gaspardone, BA, tr.63) Nguyễn Kiều có hiệu Hạo-hiên, ông còn sống vào năm 1750 vì ông đã viết Phần mở đầu của cuốn Chu dịch quốc âm giải nghĩa của Đặng Thái Phương (xem Gaspardone, BA, số 132)
(6) Tất cả phần này lệ thuộc rất nhiều vào phần giới thiệu CPNBK của Hoàng Xuân Hãn. E. Gaspardone coi Đoàn Thị Điểm như là vợ kế của Nguyễn-Phiên. Dường như có sự nhầm lẫn trong cách đọc chữ Kiều thành chữ Phiên, hai chữ Hán này rất giống nhau, số 130, tr.114
(7) Gaspardone, BA, số 130
(8) Tựa đầu tiên là Dã sử tạp biên do Vũ Văn Lập cử nhân năm 1852 biên soạn, phần nhập đề được viết năm 1896 (EFEO, A.12; xem Gaspardone, BA, tr 76, ghi chú 1). Hồng Lĩnh Hầu, ông được phong làm tổng đốc Sơn-Tây, kế đó ông có toàn quyền trên các tỉnh Tuyên Quang, Hưng-Hóa, Cao-Bằng, Lạng-Sơn để dẹp tan cuộc nổi dậy của Hoàng Văn Đồng mà ông đã thành công trong việc tiêu diệt năm 1779. Cùng năm đó mẹ ông và vợ ông từ trần và ông rút lui khỏi đời sống hành chánh và chính trị. Năm 1779 ông hoàng Tĩnh Vương (Trịnh Sâm, 1767-1782) say mê con người nổi tiếng Đặng Thị Huệ, được biết dưới tên Bà Chúa Chè đã sinh cho ông một người con trai Trịnh Cán năm 1777. Bà này muốn con trai bà trở thành hoàng tử thưà kế thế chỗ của Trịnh Tông (Trịnh Khải). Bà dựa vào thế lực của thừa tướng Hoàng Đình Bảo và thành công trong việc phong Cán làm hoàng tử thừa kế. Tuy nhiên Tông đã có thể thành lập một phe với sự ủng hộ của Nguyễn Khản cùng với Nguyễn Khắc Tuân nhưng lại bị Ngô Thì Nhậm phản bội và tất cả bị giam cầm. Chỉ một mình Khản được Trịnh Sâm nể phục nên thoát chết nhưng bị giam lỏng tại gia. Lúc đó ông soạn thảo cuốn Tự tình khúc làm Tĩnh Vương cảm động. Năm 1782, vào lúc Trịnh Sâm băng hà, loạn kiêu binh nổi dậy chống lại Trịnh Cán được đặt lên ngai vàng lúc sáu tuổi. Quân nổi dậy giết Hoàng Đình Bảo và làm lễ đăng quang Trịnh Tông (Trịnh Khải, 1782-1786 ) Nguyễn Khản trở lại được ưu đãi và nhận được nhiều chức vụ quan trọng. Tuy nhiên đoàn Kiêu Binh muốn lấn quyền của Ông Hoàng, Khản muốn loại trừ chúng. Chúng đốt nhà Nguyễn Khản và Khản phải chạy trốn về Sơn Tây nơi ông cùng người em Nguyễn Điều âm mưu dẹp tan nhóm phản loạn. Nhưng họ không thành công và quay trở về ngôi làng sinh quán họ. Năm 1786 khi Nguyễn Hữu Chỉnh và Nguyễn Huệ chiếm thành Thăng Long, Khản muốn giúp Trịnh Khải chạy trốn về Sơn-Tây nhưng ông không thành công vì đám kiêu binh ghét ông. Sau đó ông trở lại kinh thành và qua đời vì bệnh tật (1802), xem Hoàng Xuân Hãn, CPNBK, tr. 44-48; Gaspardone, BA, tr. 68; Hà Như Chi II, 25.
(9) Về sự mô tả tác phẩm này, xem Hoàng Xuân Hãn, CPNBK, tr. 42, số 50
(10)Hoàng Xuân Hãn, CPNBK, tr.27
(11)Trường EFEO, dưới mã số A.26, sở hữu bản in này vào năm theo chu kỳ Nhâm Dần của Thành Thái vào ngày tốt 1902. Nữ sỹ được chỉ định như tác giả dưới tên Nguyễn Thị Điểm. Bản văn gồm 412 câu song thất lục bát và có tựa đề Chinh phụ ngâm bị lục.
(12)Con của Nguyễn Nghiễm, anh của Nguyễn Du, nguyên quán làng Tiên Điền, quận Nghi Xuân, tỉnh Hà-Tĩnh. Ông thay đổi tên ba lần, Nguyễn Hân (1760), Nguyễn Lệ (1767) và Nguyễn Khản (1778). Tên tự là Tư-Trực và tên hiệu Thuật-Hiên. Vào năm 14 tuổi, ông đậu cử nhân trong kỳ thi tam trường, năm 20 tuổi đậu bằng hương cống, năm 27 tuổi ông đậu tiến sĩ năm 1760. Trong thời gian đó ông dậy kèm Trịnh Sâm, người đã trị vì từ 1767 tới 1782. Sau này khi ngài nắm quyền hành, ngài ban cho người thầy dậy kèm cũ nhiều ân huệ. Năm 1773 Nguyễn Khản cùng với cha ông là Nguyễn Nghiễm là thành phần của giới lãnh đạo quân thần của Trịnh Sâm (còn gọi là Tĩnh Độ Vương) và cả hai cùng tham gia chiến dịch đánh Phú Xuân và chiếm thành phố này (1774. Nguyễn Khản đã chỉ huy công cuộc tiếp tế lương thực từ tỉnh Nghệ An. Năm 1775, lúc cha ông mất ông còn ở Nghệ-An với chức vụ tham lĩnh cho tới năm 1778.
(13)Bản thảo của M. Durand mang chữ nôm và phải đọc là Bắc nam hai ngả (ghi chú EFEO 1997).
(14)Từ chỉ định một hình thức văn thơ rất phổ biến dưới trào nhà Đường và nhà Tống và có nguồn gốc từ loại yo-fou (nhạc phủ). Sự biến hóa sau này của nó đưa đến K’iu (khúc).
(15) Lạnh.
(16) BSEI, NS, quyển XXVIII, số 2, quý thứ hai 1953, tr. 177-181
(17) Xem Thư viện quốc gia, chữ Tầu XIX, 10, (18) k.2, tr.63 và tiếp theo.
(18) Tôi không chắc chắn lắm về lời giải thích của tôi. Hoàng Xuân Hãn kể ra ấn phẩm nhưng không có ám chỉ đến câu này mà tôi có trong bản sao chép của tôi.
(19) Dụ am ngâm tập (Tuyển tập những bài thơ của Dụ-Am) của Phan Huy Ích, quyển 6, Vân du tùy bút, Sổ ghi gia phả của người họ Phan tại Thụy Khê, trong vùng Sơn Tây; Hoàng Xuân Hãn, Lời mở đầu cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo; M. Durand, La complainte de l’Épouse du Guerrier de Đặng Trần Côn.
(20) Về Phan Huy Ích, những chi tiết chính xác nhất được Hoàng Xuân Hãn ghi lại trong cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo của ông, Paris, Minh Tân, 1953.



10 tháng 1, 2026

CHUNG QUANH “MÀU TÍM HOA SIM” _Song Thao

 Bài viết này do Ara Phát Chuyển


CHUNG QUANH “MÀU TÍM HOA SIM”
Song Thao
Hầu như ai trong chúng ta cũng biết bài thơ “Màu Tím Hoa Sim”. Không đọc thơ cũng nghe hát trong các bản nhạc “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” của Phạm Duy, “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh, “Tím Cả Chiều Hoang” của Anh Bằng, “Tím Cả Rừng Chiều” của Thu Hồ, “Chuyện Người Con Gái Hái Sim” của Hồng Vân, ba bài mang tên “Màu Tím Hoa Sim” của Song Ngọc, Duy Khánh & Trọng Khương, và Phạm Anh Ngọc. Tai chúng ta nghe , miệng chúng ta đọc nhưng sâu hơn trong bài thơ này chúng ta ít người biết.


              
Image en ligne
                  Bìa sách “Màu Tím Hoa Sim
Tôi vừa được một anh bạn gửi cho bản e-book cuốn “Lê Đỗ Thị Ninh, Nguyễn Hữu Loan, Màu Tím Hoa Sim và Tôi”. “Tôi” là Nguyễn Quốc Bảo, em con dì của Lê Đỗ Thị Ninh, “nàng” trong bài thơ. Cuốn sách mỏng, chỉ có 80 trang, nhưng tiết lộ được nhiều chuyện, những chuyện ông phải viết. “Tôi viết những dòng này như một người Mohican cuối cùng của gia tộc, người còn giữ lại những mảnh ký ức đã bị thời gian, chiến tranh và nỗi sợ gặm mòn đến tận gốc rễ. Câu chuyện tôi sắp kể không phải được dệt lại từ truyền thuyết, không phải là phần lãng mạn hóa của văn học, cũng không phải là những hồi tưởng mong manh của một kẻ đã già. Nó là phần cuối cùng của một lịch sử gia đình, một bi kịch đã từng thật đến mức người lớn phải tránh nói trước mặt trẻ con, một nỗi đau từng khiến cả một đại gia đình trí thức ở Thanh Hóa chìm vào im lặng suốt hơn nửa thế kỷ. Tôi viết những dòng này không phải để làm sống lại kí ức cho riêng mình, mà để ngăn ký ức ấy chết theo tôi”.



                 Nhà Thơ Hữu Loan và tác giả Nguyễn Quốc Bảo.
Chúng ta biết Hữu Loan là một nhà thơ nhưng ít ai biết ông là một người trí thức trẻ, tự học và đậu Tú Tài Toàn Phần Pháp trước 1945, một điều hiếm xảy ra trong xã hội Việt Nam thời đó. Hiếm hoi đến mức người lớn trong nhà khi nhắc tới đều hơi hạ giọng, như nói đến một điều vừa ngưỡng mộ, vừa khó tin. Ông quê quán tại Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. “Những năm bốn mươi chín, với đứa trẻ như tôi, Nga Sơn chỉ là cái tên xa mù, còn anh Loan là hình ảnh rất gần, một chàng trai ăn nói thanh âm trầm, giọng Thanh Hóa pha chút quê, bước ra bước vào tiệm sách của bác gái tôi ở phố Thợ Thêu, tỉnh lỵ Thanh Hóa”. Bác gái của tác giả là bà Đái Thị Ngọc Chất, mẹ của cô Lê Đỗ Thị Ninh. Tiệm gồm sách Pháp, sách quốc ngữ, báo chí, tài liệu mà các gương mặt ham đọc ùn ùn kéo tới. Hình ảnh những ngày Hữu Loan tới tiệm sách còn hằn rõ trong trí của tác giả. “Tôi không nhớ lần đầu tiên anh bước vào nhà là năm nào. Chỉ nhớ hình ảnh đó lắng lại trong trí nhớ: một người thanh niên mặc áo sơ mi đã cũ, nhưng ủi phẳng, tóc chải ngay ngắn, tay cầm chiếc cặp da sờn. Anh nói chuyện với bác gái tôi rất cung kính, nhưng ánh mắt tỉnh và thẳng. Về sau tôi mới biết, chính từ những lần lui tới tiệm sách ấy, bác tôi nhận ra khả năng đặc biệt của anh và mời anh về dạy học cho các con trai trong nhà. Từ đó, anh không còn chỉ là khách mua sách, mà trở thành người ra vào thân thuộc của gia đình Lê Đỗ”. Hai học trò chính của lớp học tại gia này là Lê Đỗ Khôi, người tử trận chỉ vài giờ trước khi Điện Biên Phủ thất thủ, và Lê Đỗ Nguyên, sau này là Trung Tướng Hồng Cư, anh em cột chèo với Võ Nguyên Giáp. Vợ của Lê Đỗ Nguyên là Đặng Thị Hạnh, con gái học giả Đặng Thái Mai.

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ Quốc Quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
                                    



                  Trung tướng Lê Đỗ Nguyên và Đại tá Lê Đỗ Thái (“Đứa em chưa biết nói”)

Mến tài Hữu Loan, bà…gả con gái cho anh. Khi cưới anh là cán bộ Việt Minh giai đoạn đầu kháng chiến, một cán bộ trí thức. “Trong trí nhớ được truyền lại của người lớn trong nhà, anh sống rất chặt chẽ, rất nề nếp. Bộ kaki của anh lúc nào cũng phẳng. Tối đến, trước khi ngủ, việc đầu tiên không phải là ngả lưng mà là tháo áo quần, vuốt từng nếp, xếp ngay ngắn, gấp phẳng, rồi đặt dưới gối. Như thể cái gối anh gối đầu là đồng thời gối lên danh dự của một người cán bộ – không cho phép mình nhăn nhúm, xộc xệch, dù chỉ trong giấc ngủ. Anh có một cây bút máy Parker màu bạc silver. Nói như thế bây giờ nghe nhẹ tênh, nhưng vào thời đó, Parker là cả một thế giới. Một thứ vừa xa xỉ, vừa biểu tượng, vừa là dấu hiệu của một tầng lớp, tầng lớp trí thức Tây học, biết chữ Pháp, biết làm báo cáo, viết diễn văn, soạn tài liệu. Anh giữ cây bút như báu vật. Người nhà kể, anh luôn cất nó vào một chỗ riêng trong ba lô, không cho ai động vào. Bút không chỉ để viết. Bút là cái chứng từ rằng anh đã từ cậu học trò tự học bên sông Mã, sông Lèn, bước lên thành người có thể đứng giữa Hà Nội mà thi đỗ Tú tài toàn phần như những con nhà gia thế”.

Đám cưới được tổ chức thật giản dị, ít nghi lễ. Cô dâu không may áo cưới. “Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới”. Cô sống một nếp sống khắc khổ, e thẹn, khép kín. Khi có người hỏi đùa sao cô dâu mà không đòi may áo cưới, cô chỉ cười trả lời: “Thời chiến mà, cần chi áo mới”. Chú rể mặc quân phục. “Tôi mặc đồ quân nhân / đôi giầy đinh / bết bùn đất hành quân / Nàng cười xinh xinh / bên anh chồng độc đáo”. Sau vài mâm cơm, ít câu chúc tụng, những cuộc trò chuyện vội vàng, đám cưới kết thúc.

Dưới mắt tác giả Nguyễn Quốc Bảo, Lê Đỗ Thị Ninh là một bóng hình dễ mến. “Chị là chị họ ruột của tôi, gần gũi như anh em ruột, và chị thân thiết với chị tôi - Nguyễn Thị Huệ - hai người bằng tuổi nhau, đi đâu cũng kè kè bên nhau. Tôi còn nhớ rất rõ, trong đám đông trẻ con năm ấy, chị Ninh lúc nào cũng là người e ấp nhất. Chị không ồn ào, không nói nhiều, không liều lĩnh như đám con gái tản cư chạy ngoài bãi cát Sầm Sơn. Chị hiền đến độ chỉ cần một tiếng gọi hơi đột ngột cũng đủ làm chị đỏ mặt; thẹn đến độ chỉ cần có người lớn nhìn chăm quá vài giây là chị nép vào vai chị tôi. Mỗi lần gặp, chị luôn cúi đầu chào rất lễ phép, tiếng nói nhỏ, nhẹ, ngữ điệu như nắng sớm vắt qua bờ giậu. Trong mắt tôi lúc ấy, chị là hình ảnh của một người con gái chưa hề biết yêu, chưa hề bước ra khỏi chiếc vỏ mỏng manh của tuổi dậy thì. Chị giống như một búp sen vừa nở được một cánh mỏng đã bị sương khuya thấm vào, khép lại mãi mãi”.

Cô dâu Lê Đỗ Thị Ninh là con của ông Lê Đỗ Kỳ và bà Đái Thị Ngọc Chất. Bà Ngọc Chất thuộc một gia đình coi trọng chữ nghĩa. Bà là chị cả, nghiêm trang, nề nếp, có cái uy tự phát tiết trong người. Bà là chị ruột của bà Đái thị Kim Chữ, mẹ của tác giả Nguyễn Quốc Bảo, và nhà văn Tchya Đái Đức Tuấn. Cha mẹ của họ là ông Đái Xuân Quảng và bà Đỗ Thị Hiền. Họ Đái gốc Quảng Xương bên Trung Hoa đến An Nam từ thời Cao Biền. Họ Đỗ của bà Đỗ Thị Hiền cùng tộc với thi hào Đỗ Phủ là một cự tộc bên Trung Hoa. Cụ Đỗ Các, cố ngoại của tác giả và cô Lê Đỗ Thị Ninh, làm tới Án Sát tỉnh Thanh Hóa, có 5 vợ. Bà vợ thứ ba là bà Phạm thị Lương sanh ra bà Đỗ Thị Hảo sau này là vợ đầu tiên của học giả Trần Trọng Kim. Chính cụ Đỗ Các đã tài trợ cho con rể Trần Trọng Kim du học bên Pháp.

Lê Đỗ Thị Ninh chết đuối vào năm 1949, thời tản cư. Bữa đó, như mọi ngày, chị ra giặt đồ bên dòng Nông Giang. Bất thần nước đổ xiết. Những người đàn bà đang giặt hoảng hốt ôm đồ chạy lên bờ. Chỉ có một người không chạy kịp. Chị trượt chân, dòng nước dữ kéo chị đi trong chớp mắt. Không ai kịp níu người gặp nạn. Suốt ba ngày đêm, dân làng chèo bè kiếm xác chị. Họ vớt từ khối rác hay bọt bèo nổi lên mong tìm thấy xác chị bám theo. “Tôi cũng là một trong những đứa trẻ ấy - vừa tò mò, vừa sợ hãi, vừa không hiểu vì sao chỉ trong một buổi chiều, một người còn cười nói đã biến mất như vậy. Khi người ta vớt được xác chị, nước đã làm biến đổi nhiều thứ. Tôi chỉ thấy người lớn quây quanh, khăn áo sũng nước, mắt đỏ hoe, còn chị thì nằm im, nhỏ bé, không còn là cô gái mười sáu tuổi e ấp ngày cưới nữa. Thân thể ngâm nước đã phình lên”. Bà mẹ Đái Thị Ngọc Chất ngồi bên xác con không khóc, không kêu, không gào thét được. Bà chỉ ngồi bệt xuống đất, hai bàn tay run run giữ hai đầu gối, mắt mở trừng trừng nhìn vào xác thân con như nhìn một chiếc bóng vừa tách ra khỏi đời mình. Ba đứa con nhỏ của bà: Lê Đỗ Bình, Lê Đỗ Thái, Lê Đỗ Như run rẩy đứng sau lưng bà không hiểu chuyện chi đã xảy ra.

Đám tang vội vã đến nát lòng. Quan tài là vài tấm ván mộc ghép lại, không kèn trống, không cúng kiếng, được mang ra một miếng đất cao vùi vội xuống một khung huyệt nhỏ. Một ụ đất thấp được đắp lên, cắm một nén nhang, không có bia, không có tên, chỉ có bình hương lạnh là chiếc bình hoa ngày cưới.

Khi nghe tin dữ, Hữu Loan đứng bật dậy, mặt tái như chàm rồi ngồi sụp xuống đất như đôi chân không còn sức chống đỡ. Suốt đêm hôm đó ông ngồi dựa gốc cây, không nói một lời, chỉ lặng người nhìn lên trời. Sáng hôm sau ông lặng lẽ trở lại công việc nhưng từ bữa đó tóc mai ông bạc rất nhanh.

Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần

Không còn nhìn thấy người đã khuất, Hữu Loan cũng không bao giờ được nhìn thấy những người thân của vợ kể từ khi ông ra khỏi Đảng vào năm 1950. Ngay Đỗ Lê Thái, “đứa em chưa biết nói”, khi đó là Đại Tá, cũng không bao giờ thăm gặp ông. Không phải vì oán ghét chi mà vì sợ. Chỉ có Hữu Loan không sợ. Sau những năm cải cách ruộng đất, chỉnh huấn, đấu tố và Nhân Văn Giai Phẩm, Hữu Loan bị cô lập. Vậy mà anh lập gia đình lần nữa. Như một chống đối. Không cưới hỏi chi. “Tôi vẫn nhớ rất rõ câu chuyện về chị Nhu - người vợ sau của anh Loan. Một lần ngồi giữa gian nhà lợp ngói cũ ở Nga Sơn, chị kể cho tôi nghe giọng nhỏ, mà như ai rót nước nóng vào tim. Chị bảo, chị là con út trong một gia đình chỉ có vài thửa ruộng con. Vậy mà Cải cách Ruộng đất xếp họ vào hạng tiểu tư sản. Bố mẹ bị đấu tố, bị “thất lộc”, nhà cửa mất sạch, ruộng vườn bị chia, cả gia đình tản mác như tro bay trên đồng mùa đông. Chị trở thành một đứa con gái không nhà không cửa, ban ngày lang thang, ban đêm ngủ nhờ. Cái nghèo đứt ruột thì người ta còn chịu được, nhưng cái nhục bị bêu riếu giữa sân đình thì chị nói, “nó theo riết như mùi khói rơm ám trong áo”. Ấy vậy mà trong những ngày thất thểu ấy, chị vẫn có thói quen lén đến đứng ngoài cửa ngôi trường dựng tạm ở đình làng. Chị đứng nép sau cột đình, chỉ để nghe một người thầy trẻ giảng Kiều cho mấy đứa học trò. Chị bảo, chị không hiểu hết, nhưng mỗi lần nghe đến câu thơ nào anh giảng say mê, chị thấy như đời mình bỗng đỡ tối một chút. Người thầy ấy chính là anh Loan”.

3
Vợ chồng nhà thơ Hữu Loan.

“Anh Loan” lúc đó thấy chị? “Anh nói với tôi, lần đầu thấy chị đứng sau cột đình, gương mặt ngơ ngác mà ánh mắt đầy sợ hãi, anh tưởng chị là người tò mò qua đường. Nhưng sau nhiều buổi, anh nhận ra sự lặp lại ấy có một nỗi niềm khổ nhục nào đó. Anh tìm hiểu, hỏi chuyện, biết tận cùng hoàn cảnh của chị. Và theo cách rất Hữu Loan - anh không sợ chính quyền, không sợ công an, không sợ “tai tiếng” gì hết - anh đưa chị về nhà nuôi. Rồi hai người thành vợ thành chồng, âm thầm, không hôn lễ, không họ hàng, không ai dám chúc phúc. Nhưng họ sinh được chín người con. Chín đứa trẻ lớn lên giữa nghèo khó, kéo đá, thồ vôi, nhưng lớn lên bằng một thứ mà đảng tịch, chính quyền hay bất kỳ tờ giấy nào không thể cho, sự tử tế của bố, một người đàn ông từng đứng giữa chiến khu, từng từ bỏ mọi thứ để giữ cho mình một chút trong veo còn sót lại”.
Chỉ vì chút “trong veo” mà một nhà thơ của cả một thế hệ, một người thầy được mọi người kính trọng, một trí thức tự học đậu Tú Tài Pháp, đã phải kéo xe chở đá trên con đường gập ghềnh trong làng, lưng cong vì sức nặng khi lên dốc. Vợ anh phải buôn bán lậu ở chợ để kiếm chút cháo nuôi đàn con nhỏ và một ông chồng bị đày đọa vì muốn đứng thẳng lưng. “Anh Loan đưa mắt nhìn ra vườn, đưa mắt nhìn ra cái hiên thấp lợp ngói mốc, hai cột tre chống xiêu vẹo, cái bàn gỗ lổn nhổn nồi niêu chén bát, rổ thau úp ngược, cái sọt nhựa đỏ dựng ở góc, cái bát trắng lẻ loi trên nền xi măng ẩm mốc. Cả cái gian bếp tăm tối ấy, với cửa gỗ hé mở và đống bao tải vứt trong góc, chính là phần đời mà người ta đã bắt nhà thơ sống sau khi đã “đánh” xong anh. Rồi ông bật cười, một tiếng cười nhẹ như tiếng gỗ va nhau: “Tao nói rồi… tụi kia toàn một lũ hèn. Chỉ có vài người chịu đứng thẳng. Mà đứng thẳng thì gãy.” Ông nói, nhẹ như thở: “Đảng, Tố Hữu hay Trường Chinh…cũng không đoạn trường được tao. Tao bị chúng nó đánh đến nát rồi…không còn đánh thêm được nữa; nên tao nhìn mọi chuyện… rất thảnh thơi.”

                               

Image en ligne
          Tác giả Nguyễn Quốc Bảo và bà Nhu.

Thảnh thơi như những bụi hoa sim tím thẫm. Hoa sim ở đâu mà bài thơ mang tên “Màu Tím Hoa Sim” khiến thứ hoa tầm thường trở thành thứ hoa được người đời nhìn như những bông hoa cao quý của một đời chồng vợ chỉ vẻn vẹn ba ngày. “Hoa sim trong thơ Hữu Loan không mọc ở đâu xa xôi. Nó mọc tím trên những đồi thấp quanh ấp Thị Long - đúng nơi chị Lê Đỗ Thị Ninh mất. Từng bụi sim, từng cành hoa tía đậm, từng cánh hoa rung trong gió đều là nhân chứng câm lặng cho một cái chết thật. Và vì thế, Hữu Loan không chỉ viết thơ; ông viết nỗi đau thật thành ngôn từ, vật hóa bi kịch thành câu chữ, làm bất tử một người con gái mới mười sáu tuổi. Tôi viết những dòng này bằng tư cách một người đã đi qua lịch sử, bị lịch sử xé nát tuổi thơ, và tình cờ trở thành nhân chứng cuối cùng của một câu chuyện mà cả nước thuộc, nhưng ít ai biết gốc gác thật của nó”.
Nhiều người đã đọc bài “Màu Tím Hoa Sim” và hầu như ai cũng đã từng nghe những bài nhạc ăn theo bài thơ. Tôi nhớ những ngày trong các ngõ hẻm Sài Gòn xưa bản nhạc của Dzũng Chinh ra rả suốt ngày, nhà nọ dắt díu qua nhà kia. Chúng ta chỉ biết đây là một chuyện tình bi thảm lấy được nước mắt của mọi người. Biết hơn một chút thì đây không phải một chuyện tình trong tiểu thuyết mà là một bi kịch có thật xảy ra trong đời tác giả Hữu Loan. Nhờ cuốn sách của tác giả Nguyễn Quốc Bảo, một người thân trong gia đình “nàng”, mà chúng ta biết đầy đủ về tấm bi kịch của cô gái 16 tuổi và nhà thơ. Có lẽ bi kịch này đã đẩy tác giả tới việc bỏ Đảng, chấp nhận cuộc sống của người bị bỏ ra bên lề chế độ. Phong ba bão táp đã đổ xuống suốt cuộc đời còn lại của tác giả Hữu Loan, không những tách ông ra khỏi xã hội mà tách ông ra khỏi cả gia đình bên vợ. Chỉ vì họ sống trong nỗi sợ hãi. Chỉ có ông kiên cường sống bất khuất. “Đảng, Tố Hữu hay Trường Chinh…cũng không đoạn trường được tao. Tao bị chúng nó đánh đến nát rồi…không còn đánh thêm được nữa; nên tao nhìn mọi chuyện… rất thảnh thơi.”

Tôi chưa bao giờ thấy một đóa sim nhưng vẫn mường tượng đó như một vết bầm đọng máu tím tái. Những vết bầm trên người nhà thơ bất khuất Hữu Loan!

12/2025

4
Bia mộ nhà thơ Hữu Loan.

                          6
                                Nhà thơ Hữu Loan
Song Thao