Bài viết này do Ara Phát Chuyển

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ Quốc Quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Mến tài Hữu Loan, bà…gả con gái cho anh. Khi cưới anh là cán bộ Việt Minh giai đoạn đầu kháng chiến, một cán bộ trí thức. “Trong trí nhớ được truyền lại của người lớn trong nhà, anh sống rất chặt chẽ, rất nề nếp. Bộ kaki của anh lúc nào cũng phẳng. Tối đến, trước khi ngủ, việc đầu tiên không phải là ngả lưng mà là tháo áo quần, vuốt từng nếp, xếp ngay ngắn, gấp phẳng, rồi đặt dưới gối. Như thể cái gối anh gối đầu là đồng thời gối lên danh dự của một người cán bộ – không cho phép mình nhăn nhúm, xộc xệch, dù chỉ trong giấc ngủ. Anh có một cây bút máy Parker màu bạc silver. Nói như thế bây giờ nghe nhẹ tênh, nhưng vào thời đó, Parker là cả một thế giới. Một thứ vừa xa xỉ, vừa biểu tượng, vừa là dấu hiệu của một tầng lớp, tầng lớp trí thức Tây học, biết chữ Pháp, biết làm báo cáo, viết diễn văn, soạn tài liệu. Anh giữ cây bút như báu vật. Người nhà kể, anh luôn cất nó vào một chỗ riêng trong ba lô, không cho ai động vào. Bút không chỉ để viết. Bút là cái chứng từ rằng anh đã từ cậu học trò tự học bên sông Mã, sông Lèn, bước lên thành người có thể đứng giữa Hà Nội mà thi đỗ Tú tài toàn phần như những con nhà gia thế”.
Đám cưới được tổ chức thật giản dị, ít nghi lễ. Cô dâu không may áo cưới. “Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới”. Cô sống một nếp sống khắc khổ, e thẹn, khép kín. Khi có người hỏi đùa sao cô dâu mà không đòi may áo cưới, cô chỉ cười trả lời: “Thời chiến mà, cần chi áo mới”. Chú rể mặc quân phục. “Tôi mặc đồ quân nhân / đôi giầy đinh / bết bùn đất hành quân / Nàng cười xinh xinh / bên anh chồng độc đáo”. Sau vài mâm cơm, ít câu chúc tụng, những cuộc trò chuyện vội vàng, đám cưới kết thúc.
Dưới mắt tác giả Nguyễn Quốc Bảo, Lê Đỗ Thị Ninh là một bóng hình dễ mến. “Chị là chị họ ruột của tôi, gần gũi như anh em ruột, và chị thân thiết với chị tôi - Nguyễn Thị Huệ - hai người bằng tuổi nhau, đi đâu cũng kè kè bên nhau. Tôi còn nhớ rất rõ, trong đám đông trẻ con năm ấy, chị Ninh lúc nào cũng là người e ấp nhất. Chị không ồn ào, không nói nhiều, không liều lĩnh như đám con gái tản cư chạy ngoài bãi cát Sầm Sơn. Chị hiền đến độ chỉ cần một tiếng gọi hơi đột ngột cũng đủ làm chị đỏ mặt; thẹn đến độ chỉ cần có người lớn nhìn chăm quá vài giây là chị nép vào vai chị tôi. Mỗi lần gặp, chị luôn cúi đầu chào rất lễ phép, tiếng nói nhỏ, nhẹ, ngữ điệu như nắng sớm vắt qua bờ giậu. Trong mắt tôi lúc ấy, chị là hình ảnh của một người con gái chưa hề biết yêu, chưa hề bước ra khỏi chiếc vỏ mỏng manh của tuổi dậy thì. Chị giống như một búp sen vừa nở được một cánh mỏng đã bị sương khuya thấm vào, khép lại mãi mãi”.
Cô dâu Lê Đỗ Thị Ninh là con của ông Lê Đỗ Kỳ và bà Đái Thị Ngọc Chất. Bà Ngọc Chất thuộc một gia đình coi trọng chữ nghĩa. Bà là chị cả, nghiêm trang, nề nếp, có cái uy tự phát tiết trong người. Bà là chị ruột của bà Đái thị Kim Chữ, mẹ của tác giả Nguyễn Quốc Bảo, và nhà văn Tchya Đái Đức Tuấn. Cha mẹ của họ là ông Đái Xuân Quảng và bà Đỗ Thị Hiền. Họ Đái gốc Quảng Xương bên Trung Hoa đến An Nam từ thời Cao Biền. Họ Đỗ của bà Đỗ Thị Hiền cùng tộc với thi hào Đỗ Phủ là một cự tộc bên Trung Hoa. Cụ Đỗ Các, cố ngoại của tác giả và cô Lê Đỗ Thị Ninh, làm tới Án Sát tỉnh Thanh Hóa, có 5 vợ. Bà vợ thứ ba là bà Phạm thị Lương sanh ra bà Đỗ Thị Hảo sau này là vợ đầu tiên của học giả Trần Trọng Kim. Chính cụ Đỗ Các đã tài trợ cho con rể Trần Trọng Kim du học bên Pháp.
Lê Đỗ Thị Ninh chết đuối vào năm 1949, thời tản cư. Bữa đó, như mọi ngày, chị ra giặt đồ bên dòng Nông Giang. Bất thần nước đổ xiết. Những người đàn bà đang giặt hoảng hốt ôm đồ chạy lên bờ. Chỉ có một người không chạy kịp. Chị trượt chân, dòng nước dữ kéo chị đi trong chớp mắt. Không ai kịp níu người gặp nạn. Suốt ba ngày đêm, dân làng chèo bè kiếm xác chị. Họ vớt từ khối rác hay bọt bèo nổi lên mong tìm thấy xác chị bám theo. “Tôi cũng là một trong những đứa trẻ ấy - vừa tò mò, vừa sợ hãi, vừa không hiểu vì sao chỉ trong một buổi chiều, một người còn cười nói đã biến mất như vậy. Khi người ta vớt được xác chị, nước đã làm biến đổi nhiều thứ. Tôi chỉ thấy người lớn quây quanh, khăn áo sũng nước, mắt đỏ hoe, còn chị thì nằm im, nhỏ bé, không còn là cô gái mười sáu tuổi e ấp ngày cưới nữa. Thân thể ngâm nước đã phình lên”. Bà mẹ Đái Thị Ngọc Chất ngồi bên xác con không khóc, không kêu, không gào thét được. Bà chỉ ngồi bệt xuống đất, hai bàn tay run run giữ hai đầu gối, mắt mở trừng trừng nhìn vào xác thân con như nhìn một chiếc bóng vừa tách ra khỏi đời mình. Ba đứa con nhỏ của bà: Lê Đỗ Bình, Lê Đỗ Thái, Lê Đỗ Như run rẩy đứng sau lưng bà không hiểu chuyện chi đã xảy ra.
Đám tang vội vã đến nát lòng. Quan tài là vài tấm ván mộc ghép lại, không kèn trống, không cúng kiếng, được mang ra một miếng đất cao vùi vội xuống một khung huyệt nhỏ. Một ụ đất thấp được đắp lên, cắm một nén nhang, không có bia, không có tên, chỉ có bình hương lạnh là chiếc bình hoa ngày cưới.
Khi nghe tin dữ, Hữu Loan đứng bật dậy, mặt tái như chàm rồi ngồi sụp xuống đất như đôi chân không còn sức chống đỡ. Suốt đêm hôm đó ông ngồi dựa gốc cây, không nói một lời, chỉ lặng người nhìn lên trời. Sáng hôm sau ông lặng lẽ trở lại công việc nhưng từ bữa đó tóc mai ông bạc rất nhanh.
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Không còn nhìn thấy người đã khuất, Hữu Loan cũng không bao giờ được nhìn thấy những người thân của vợ kể từ khi ông ra khỏi Đảng vào năm 1950. Ngay Đỗ Lê Thái, “đứa em chưa biết nói”, khi đó là Đại Tá, cũng không bao giờ thăm gặp ông. Không phải vì oán ghét chi mà vì sợ. Chỉ có Hữu Loan không sợ. Sau những năm cải cách ruộng đất, chỉnh huấn, đấu tố và Nhân Văn Giai Phẩm, Hữu Loan bị cô lập. Vậy mà anh lập gia đình lần nữa. Như một chống đối. Không cưới hỏi chi. “Tôi vẫn nhớ rất rõ câu chuyện về chị Nhu - người vợ sau của anh Loan. Một lần ngồi giữa gian nhà lợp ngói cũ ở Nga Sơn, chị kể cho tôi nghe giọng nhỏ, mà như ai rót nước nóng vào tim. Chị bảo, chị là con út trong một gia đình chỉ có vài thửa ruộng con. Vậy mà Cải cách Ruộng đất xếp họ vào hạng tiểu tư sản. Bố mẹ bị đấu tố, bị “thất lộc”, nhà cửa mất sạch, ruộng vườn bị chia, cả gia đình tản mác như tro bay trên đồng mùa đông. Chị trở thành một đứa con gái không nhà không cửa, ban ngày lang thang, ban đêm ngủ nhờ. Cái nghèo đứt ruột thì người ta còn chịu được, nhưng cái nhục bị bêu riếu giữa sân đình thì chị nói, “nó theo riết như mùi khói rơm ám trong áo”. Ấy vậy mà trong những ngày thất thểu ấy, chị vẫn có thói quen lén đến đứng ngoài cửa ngôi trường dựng tạm ở đình làng. Chị đứng nép sau cột đình, chỉ để nghe một người thầy trẻ giảng Kiều cho mấy đứa học trò. Chị bảo, chị không hiểu hết, nhưng mỗi lần nghe đến câu thơ nào anh giảng say mê, chị thấy như đời mình bỗng đỡ tối một chút. Người thầy ấy chính là anh Loan”.

Vợ chồng nhà thơ Hữu Loan.
Tôi chưa bao giờ thấy một đóa sim nhưng vẫn mường tượng đó như một vết bầm đọng máu tím tái. Những vết bầm trên người nhà thơ bất khuất Hữu Loan!
12/2025

Bia mộ nhà thơ Hữu Loan.
