13 tháng 10, 2026

Truyện Tô Tiên công_Nguyễn Xuyên Trường

 Tác giả là cựu giáo  sư Trung học Ngô Quyền, Biên Hòa, Trung học Vũng Tàu, Vũng Tàu. Tốt nghiệp ban Việt Hán Đại học Sư Phạm Sài gòn năm 1973. 


Vài ghi chép về truyện Tô Tiên công

 

Ghi chú của người viết:

1.     Đây là một truyện về thần tiên trong truyền thuyết của Trung quốc, kể về người tu đạo, tu tiên có thể hóa thành hạc và ngược lại.

2.     Tài liệu trích dẫn cùng chú thích đều từ các thư liệu trong cổ tịch Trung quốc và các tự điển hoặc từ điển mà người viết hiện có.

3.     Những giải thích trong các thư liệu này là những giải thích không có tính chất khoa học (như trong Sơn Hải Kinh chẳng hạn) theo tinh thần nghiên cứu hiện đại. Do đó những giải thích ấy chỉ nhằm tìm hiểu cách suy nghĩ, phán đoán của người xưa về các sự việc lúc bấy giờ.

4.     Người viết khi trích dẫn từ các thư liệu trên, sẽ:

a.     Không phẩm định tính trung thực hay chân xác của giải thích do khả năng có hạn của người viết và do sự tôn trọng nguyên tác cùng nguyên trạng.

b.     Khi trích dẫn, người viết luôn luôn ghi rõ xuất xứ các trích dẫn của mình, dù xuất phát từ đâu (cổ tịch, tự điển, từ điển) để người đọc khi muốn, có thể tự tra cứu, phẩm định. Những trích dẫn để giải thích về một số khái niệm hay từ ngữ trong bản văn, từ các tư liệu, có thể có nhiều trùng lặp. Điều này là hiện tượng thường gặp trong các thư liệu cổ tịch. Các sách vở xưa, các từ điển có thể khi biên tập dùng cùng một xuất xứ, có thể được thêm bớt. Đôi khi cùng một nguồn tư liệu lại có những ghi chép khác biệt trong các cổ tịch. Điều ấy khó tránh khỏi.

c.      Các trích dẫn phần lớn sẽ ghi, trước tiên bằng nguyên văn Hán ngữ, phiên âm và sau đó tạm dịch cùng các chú thích cần thiết. Khi chú thích, người viết đôi khi có lan man, dẫn giải thêm các tư liệu có liên hệ ít nhiều các điểm giải thích. Bản Hán ngữ dùng là dạng chữ phồn thể.

d.     Vì là một đề tài trong cổ tịch, người viết hoàn toàn không tham khảo trong Internet để đảm bảo thuần tính của cổ tịch. Việc tham khảo từ Internet, và  đặc biệt trong thời bây giờ với AI, người đọc có thể tùy ý tìm hiểu thêm.

5.     Do tài liệu tham khảo ít ỏi, thực học còn hạn chế, có thể trong bài viết có nhiều sai sót, nhất là trong phần chú âm, tạm dịch các trích dẫn từ Hán ngữ, cho nên người viết rất mong các bậc cao kiến góp ý, bổ đính …

6.     Tài liệu tham khảo được ghi ở phần cuối, chỉ ghi các thư liệu liên hệ thường dùng. Thư liệu ghi theo thứ tự ABC dựa theo âm Việt Hán.

Tên tác phẩm viết hoa có gạch dưới và in nghiêng, ví dụ sách Thần Tiên truyện, Từ Nguyên (BK), Q. hạ… cốt để phân biệt các danh từ riêng khác.     

 

Tô Tiên công

 

Về „Hạc biến thành người hay người biến thành hạc“, trong Thần Tiên Truyện của Cát Hồng cũng như sau này trong Thái Bình Quảng Ký  do nhóm Lý Phưởng soạn có chép truyện Tô Tiên Công. Sau đây là sự tích Tô Tiên công, người tu thành tiên và hóa thành bạch hạc. Truyện này cũng là một trong nhiều sự tích được ghi chép trong cổ tịch Trung quốc. 

[Lời dẫn: 

Theo truyền thuyết truyện về Tô Tiên công có ba sự việc được nói đến:

+ là người con chí hiếu, hết lòng phụng dưỡng mẫu thân,

+ là người thầy thuốc, giỏi y dược với phương thuốc quất tỉnh để trị bịnh dịch,

+ là người tu đạo thành tiên với nhiều phép thuật và bản thân tu tiên hóa thành bạch hạc. 

1.      Bản Hán văn về Tô Tiên công được chép lại sau đây trích từ Thái Bình Quảng Ký 太平廣 記của nhóm Lý Phưởng 李 昉thời Tống (quyển đệ thập tam, Thần tiên thập tam) từ trang 91 đến trang 92. Bản in của Trung Hoa Thư cục, Bắc Kinh 2011 (ấn bản thứ 11). Cuối truyện có ghi xuất xứ:Thần Tiên Truyện, tức là nguyên tác của Cát Hồng. Bản văn này in theo dạng chữ phồn thể (chữ truyền thống)   

Bản Hán văn trong Thần Tiên Truyện 神 仙 傳của Cát Hồng 葛 洪 (thời Đông Tấn), Tạ Thanh Vân 謝清 雲dịch chú, do nhà xuất bản Trung Hoa Thư Cục, Bắc kinh 2024, ấn bản thứ 10, quyển thứ 9, từ trang 355 đến trang 363, in theo kiểu chữ giản thể của Hoa lục.

Trong phần Tiền ngôn 前言 của sách này (từ trang  đến trang 9) Tạ Thanh Vân đã lần lượt khảo sát về „Tác giả sinh bình作 者 生平“ (phần (I), từ trang 1 đến trang 4;  về „Chủ yếu trứ tác hòa thành tựu 主 要 注 作 和 成 就“ (phần (II) từ trang 4 đến trang 6; về „Thần Tiên truyện đích sáng tác bối cảnh hòa hậu thế ảnh hưởng 神 仙 傳 的 創 作 背 景 和 後 世 影 響 “ (phần (III), từ trang 6 đến trang 9; về „Dịch chú thuyết minh 譯 注 說 明 „ (phần (IV) từ trang 9 đến trang 11.

Qua đó người đọc có thể thấy một quá trình nghiên cứu công phu của họ Tạ. 

Các truyện chép trong Thần Tiên truyện thường qua ba phần: Đề giải (giải thích sơ về nguồn gốc của truyện cùng nhân vật), nguyên tác (phân đoạn của tác giả), chú thích và dịch văn theo tân ngữ bạch thoại.

Riêng về truyện Tô Tiên công, truyện thứ năm trong quyển 9, từ trang 355 đến 363, tác giả có phần Đề giải (từ trang 355 đến trang 357), tác giả ghi lại các điểm chính, như về sinh bình của Tô Tiên công cùng thời đại, về khái niệm quất tỉnh, về vai trò và ảnh hưởng của Tô Tiên công trong lãnh vực y dược…

Thiết tưởng, nếu có điều kiện, người đọc có thể tự thân tìm hiểu thêm trong „Thân Tiên truyện“ 

2.      Cuối bản chép lại (đằng tả) của người viết có phần khảo dị, so sánh các sai biệt nếu có giữa các bản in trong truyện. Trong trường hợp các bản viết (in) trong cổ thư thường dùng chữ ư 於, ở các bản in mới, theo giản thể, thế chữ ư bằng chữ vu 于 (dị tự, nghĩa đồng, âm đọc theo Pinyin giống nhau [yu] ). Đây cũng là trường hợp của chữ tức 卽 phồn thể, (即 giản thể), chữ dư 餘 (余)… Hiện tượng này thường gặp trong các bản in ở Hoa lục. 

3.       Dịch và chú:

a.      Bản dịch của người viết, chủ yếu dựa trên nguyên bản, có tham khảo bản dịch Bạch thoại cùa Tạ Thanh Vân. Phân đoạn, chấm câu theo bản văn Thần Tiên Truyện của nhà xuất bản này, ngoài ra không tham khảo nguồn nào khác. Tuy nhiên trong phần dịch sang Việt ngữ, người viết có thay đổi cách ngắt đoạn, chấm câu theo ý nghĩa cùng nội dung trong từng đoạn văn, mạch văn cho thích nghi với ngữ pháp Việt. Ngoài ra, trong phần dịch người viết có thêm một số từ, ý cốt giúp cho nghĩa lý được rõ ràng hơn. Những bổ sung này được ghi trong ngoặc đơn (…).

b.     Phần chú thích (sau bản dịch Việt ngữ) chủ yếu của người viết, nếu có dẫn chú của Tạ Thanh Vân hay các tư liệu khác, đều ghi rõ xuất xứ. 

4.      Vài điều lưu ý của người viết: Đây là bài viết dựa trên cổ tịch về một đề tài thần tiên, về một nhân vật thần tiên. Do đó, sự tích được truyền tụng về phương diện khoa học và thực tiễn cuộc sống không có cơ sở để xét đoán. Cổ thư đã ghi chép như thế về một nhân vật thần tiên, lưu truyền trong nhân gian và qua thời gian được sao chép lại. Tư liệu do vậy chỉ xoay quanh những ghi chép trong cổ tịch mà người viết hiện có, sử dụng, hoàn toàn không theo một tư liệu nào khác nếu không có ghi chú xuất xứ cụ thể. 

 

A.    Phần [I] Nguyên bản Hán ngữ truyện Tô Tiên công: 

蘇 仙 公

蘇 仙 公 者, 桂 陽 人 也 . 漢 文 帝 時 得 道 . 先 生 早 喪 所 怙 ,鄉 中 以 仁 孝 聞 , 宅 在 郡 城 東 北 .出 入 往 來 ,不 避 燥 溼 ,至 於 食 物 , 不 憚 精 粗

先 生 家 貧 ,常 自 牧 牛, 與 里 中 小 兒, 更 日 為 牛 郎. 先 生 牧 之 牛 ,則 徘 徊 側 近, 不 驅 自 歸 , 餘 小 兒 牧 牛, 牛 則 四 散 ,跨 岡 越 嶮, 諸 兒 問  曰: “ 爾 何 術 也 ?“ 先 生 曰 :“非 汝 輩 所 知 .“ 常 乘 一 鹿.

先 生 常 與 母 共 食 ,母 曰 : “食 無 鮓, 他 日 可 往 市 買 也.“ 先 生 於 是 以 筯 插 飯 中, 攜 錢 而 去 . 斯 須 ,卽 以 鮓 至. 母 食 去 明 鈔 本 去 作 未 畢 .母 曰: “ 何 處 買 來 ?“ 對 曰: “ 便 縣 市 也.“ 母 曰: “ 便 縣 去 此 百 二 十 里, 道 途 經 險, 往 來 遽 至 ,汝 欺 我 也.“ 欲 杖 之 .先 生 跪 曰 : “買 鮓 之 時 ,見 舅 在 市, 與 我 語 云 ,明 日 來 此, 請 待 舅 至, 以 驗 虛 實 .“ 母 遂 寬 之. 明 曉 舅 果 至 ,云 昨 見 先 生 便 縣 市 買 鮓, 母 卽 驚 駭, 方 知 其 神 異.

先 生 曾 持 一 竹 杖 ,時 人 謂 曰 „蘇 生 竹 杖 „故 是 龍 也.

 

數 歲 之 後, 先 生 灑 掃 門 庭, 修 飾 墻 宇 , 友 人 曰: „有 何 邀 迎 ? „答 曰 : “仙 侶 當 降.“ 俄 頃 之 間 ,乃 見 天 西 北 隅 ,紫 雲 氤 氳, 有 數 十 白 鶴, 飛 翔 其 中, 翩 翩 然 降 于 蘓 氏 之 門. 皆 化 為 少 年 ,儀 形 端 美, 如 十 八 九 歲 人 ,怡 然 輕 擧 .先 生斂 容 逢 迎 , 乃 跪 白 母 曰: „某 受 命 當 仙 ,被 召 有 期 , 儀 衞 已 至 ,當 違 色 養 ,卽 便 拜 辭.“ 母 子 歔 欷.

母 曰 : “汝 去 之 後 ,使 我 如 何 存 活 ?“ 先 生 曰 .“  明 年 天 下 疾 疫, 庭 中 井 水, 簷 邊 橘 樹, 可 以 大 養 .井 水 以 升 , 橘  葉 一 枚 ,可 療一 人. 兼 封 一 檐  留 之, 有 所 闕 乏, 可 以 扣 檐 言 之, 所 須 當 至, 慎 勿 開 也.“ 言 畢 ,卽 出 門, 踟 躕 顧 望, 聳 身 入 雲 ,紫 雲 捧 足 ,群 鶴 翺 翔 ,遂 昇 雲 漢 而 去. 

來 年 ,果 有 疾 疫 ,遠 近 悉 求 母 遼 之 ,皆 以 水 及 橘  葉, 無 不 愈 者. 有 所 闕 乏, 卽 扣 檐, 所  須  卽 至. 三 年 之 後 ,母 心 疑, 因 卽 開 之, 見 雙 白 鶴 飛 去 ,自 後 扣 之, 無 復 有 應 .

母 年 百 餘  歲 ,一 旦 無 疾 而 終 ,鄉 人 共 葬 之 ,如 世 人 之 禮 . 葬 後 ,忽 見 州 東 北 牛 脾 山 紫 雲 蓋 上 ,有 號 哭 之 聲, 咸 知 蘇 君 之 神 也.

郡 守 鄉 人 ,皆 就 山 弔 慰.但 聞 哭 聲,不 見 其 形 .郡 守 鄉 人 苦 請 相 見,空 中 答 曰: “出 俗 日 久, 形 貌 殊 凡,若 當 露 見,誠 恐 悚 怪.“ 固 請 不 已, 卽 出 半 面,示 一 手,皆 有 細 毛,異 常 人 也. 因 謂 郡 守 鄉 人 曰: “ 遠 勞 見 慰,途 經 險 阻,可 從 直 路 而 還,不 須 回 顧.“ 言 畢, 卽 見 橋 亙 嶺 傍,直 至 郡 城. 行 次,有 一 官 吏,輒 廻 顧. 遂 失 橋 所,墮 落 江 濱,乃 見 一 赤 龍 於 脚 下,宛 轉 而 去. 

先 生 哭 處,有 桂 竹 兩 枝,無 風 自 掃. 其 地 恆 净. 三 年 之 後, 無 復 哭 聲,因 見 白 馬 常 在 嶺 上,遂 改 牛 脾 山 為 白 馬 嶺 .自 後 有 白 鶴 來 止 郡 城 東 北 樓 上, 人 或 挾 彈 彈 之, 鶴 以 爪 攫 樓 板 ,似 漆 書 云 :城 郭 是,人 民 非, 三 百 甲 子 一 來 歸, 吾 是 蘇 君 ,彈 何 為.

至 今 修 道 之 人 ,每 至 甲 子 日 焚 ,香 禮 于 仙 工 之 故 第 也 . 

Phần [II]: Phiên âm Hán Việt và dịch sang Việt ngữ: 

Tô Tiên công

Tô Tiên công giả, Quế Dương nhân dã. Hán Văn đế thời đắc đạo. Tiên sinh tảo tang sở hỗ, hương trung dĩ nhân hiếu văn, trạch tại quận thành đông bắc. Xuất nhập vãng lai, bất thị táo thấp, chí vu vật thực, bất đạn tinh thô.

Tiên sinh gia bần, thường tự mục ngưu, dữ lý trung tiểu nhi, cánh nhật vi ngưu lang. Tiên sinh mục chi ngưu, tắc bồi hồi trắc cận, bất khu tự quy. Dư tiểu nhi mục ngưu, ngưu tắc tứ tán khóa khu việt hiểm, chư nhi vấn viết: „Nhĩ hà thuật dã?“ Tiên sinh viết: „Phi nhữ bối sở tri.“  Thường thừa nhất lộc. 

Tiên sinh thường dữ mẫu cộng thực, mẫu viết: „Thực vô trã, tha nhật khả vãng thị mãi dã.“ Tiên sinh vu thị dĩ trứ sáp phạn trung, huề tiền nhi khứ. Tư du, tức dĩ trã chí. Mẫu thực khứ tất Minh sa bản khứ tác vị. Mẫu viết: „Hà xứ mãi lai?“ Đối viết: „Tiện huyện thị dã.“ Mẫu viết: „Tiện thị khứ thử bách nhị thập lí, đạo đồ kinh hiểm, vãng lai cự chí, nhữ khi ngã dã.“ Dục trượng chi. Tiên sinh quỵ viết: „Mãi trã chi thời, kiến cữu tại thị, dữ ngã ngữ vân, minh nhật lai thử, thỉnh đãi cữu chí, dĩ nghiệm hư thực.“ Mẫu toại khoan chi. Minh hiểu, cữu quả đáo, vân tạc kiến tiên sinh Tiện huyện thị mãi trã, mẫu tức kinh hãi, phương tri kỳ thần dị.

Tô Tiên công tằng trì nhất trúc trượng, thời nhân vị viết: „Tô Sinh Trúc Trượng“, cố thị long dã. 

Sổ tuế chi hậu, tiên sinh sái tảo môn đình, tu sức tường vũ, hữu nhân viết: „Hà hữu yêu nghinh ?„ Đáp viết: „Tiên lữ đương giáng.“ Nga khoảnh chi gian, nãi kiến thiên tây bắc ngung, tỉ vân nhân uân, hữu sổ thập bạch hạc, phi tường kỳ trung, phiên phiên nhiên giáng vu Tô thị chi môn. Giai hóa vi thiếu niên, nghi hình đoan mỹ, như thập bát cửu tuế nhân, đãi nhiên khinh cử. Tiên sinh liễm dung phùng nghinh, nãi quỵ bạch mẫu viết: „Mỗ thụ mệnh đương tiên, bị triệu hữu kỳ, nghi vệ dĩ chí, đương vi sắc dưỡng, tức tiện bái từ.“ Mẫu tử hư hi.

Mẫu viết: „Nhữ  khứ chi hậu, sử ngã như hà tồn hoạt?“ Tiên sinh viết: „Minh niên thiên hạ tật dịch, đình trung tỉnh thủy, thiềm (diêm) biên quất thụ, khả dĩ đại dưỡng. Tỉnh thủy nhất thăng, quất  diệp nhất chi, khả liệu nhất nhân. Kiêm phong nhất quỹ lưu chi, hữu sở khuyết phạp, khả dĩ khấu quỹ ngôn chi, sở tu đáng chí, thận vật khai dã.“ Ngôn tất, tức xuất môn, trù trừ cố vọng, tủng thân nhập vân, tử vân phủng túc, quần hạc cao tường, toại thăng Vân hán nhi khứ. 

Niên lai, quả hữu tật dịch, viễn cận tất cầu mẫu liệu chi, giai dĩ thủy cập quất diệp, vô bất dũ giả. Hữu sở khuyết phạp, tức khấu quỹ, sở tu tức chí. Tam niên chi hậu, mẫu tâm nghi, nhân tức khai chi, kiến song bạch hạc phi khứ, tự hậu khấu chi, vô phục hữu ứng. 

Mẫu niên bách dư tuế, nhật đán vô tật nhi chung, hương nhân cộng táng chi, như thế nhân chi lễ. Táng hậu, hốt kiến châu đông bắc Ngưu Tị sơn tử vân cái thượng, hữu hào khốc chi thanh, hàm tri Tô quân chi thần dã.

Quận thú hương nhân, giai tựu sơ điếu ủy. Thản văn khốc thanh, bất kiến kỳ hình. Quận thú hương nhân khổ thỉnh tương kiến, không trung đáp viết: „Xuất tục nhật cửu, hình mạo thù phàm, nhược đương lộ kiến, thành khủng kinh quái.“ Cố thỉnh bất dĩ, tức xuất bán diện, thị nhất  thủ, giai hữu tế mao, dị thường nhân dã. Nhân vị quận thú hương nhân viết: „Viễn lao kiến ủy, đồ kinh hiểm trở, khả tòng trực lộ nhi hoàn, bất tu hồi cố.“ Ngôn tất, tức kiến kiều hằng lĩnh bàng, trực chí quận thành. Hành thứ, hữu nhất quan lại, chiếp hồi cố, toại thất kiều sở, đọa lạc giang tân, nãi kiến nhất xích long ư cước hạ, uyển chuyển nhi khứ. 

Tiên sinh khốc xứ, hữu quế trúc lưỡng chi, vô phong tự tảo, kỳ địa hằng tịnh. Tam niên chi hậu, vô phục khốc thanh, nhân kiến bạch mã thường tại lĩnh thượng, toại cải Ngưu Tị sơn vi Bạch Mã lĩnh.

Tự hậu hữu bạch hạc lai chỉ quận thành đông bắc lâu thượng, nhân hoặc hiệp đạn đàn chi, hạc dĩ qua quặc lâu bảng, tự thiêm thư viết: „ Thành quách thị, nhân dân phi, tam bách giáp tí nhất lai qui, ngô thị Tô quân, đàn hà vi?“

Chí kim tu đạo chi nhân, mỗi chí giáp tí nhật, phần hương lễ vu Tiên công chi cố đệ dã. 

[XT:

Đoạn cuối này, ngắt câu (cú độc 句 讀) có khác:

Sách Thần Tiên Truyện do Tạ Thanh Vân dịch chú ghi:

…吾 是蘇 君 彈 何 為至?

… Ngô thị Tô quân, đạn hà vi chí ?

Tạm dịch: 

Tô Tiên công (蘇 仙公) là người Quế dương, vào thời Hán Văn đế (tu tiên) đắc đạo. Tô Tiên sinh thuở nhỏ đã mồ côi cha, được trong làng biết đến là người nhân nghĩa, hiếu thuận. Nhà Tô Tiên sinh ở phía đông bắc quận thành. (Tiên công) khi vào ra nơi nhà ở không ngại nắng nôi hay ẩm thấp, cho đến thức ăn, không nệ tinh thô. 

Nhà Tô công nghèo khó, nên thường phải tự chăn bò, cùng với các trẻ em trong làng, hằng ngày làm kẻ mục đồng. Khi Tô công chăn bò, bò lẩn quẩn gần bên, khi về không cần lùa cũng tự về theo. Trẻ chăn bò trong làng, tới nơi, bò của chúng thường chạy tứ tán, khó khăn khi lùa về chuồng. Các trẻ chăn bò hỏi: “Ông có cách thức gì hay vậy?“. Tô công đáp: „Việc này chúng mày không được rõ đâu!“. Khi Tô công chăn bò, thường cưỡi trên một con hươu. 

Tô công thường ăn cơm chung với mẹ. Mẫu thân nói: „Bữa ăn thiếu món cá muối (thính), ngày mai con đến chợ để mua được không?“. Tô công dùng đũa ăn vội xong, lấy tiền rồi đi.  Khoảnh khắc Tô công đem cá muối (thính) về, mẫu thân đã xong Bản Minh sa thay vì ghi [khứ] (đã, xong…) ghi [vị] (chưa…) bữa ăn. Mẫu thân hỏi: „ Con mua cá muối (thính) ở đâu (mà nhanh) vậy?“. Tô công thưa: „Ở chợ Tiện huyện!“. Mẫu thân nói: “Chợ Tiện huyện từ đây đến đó chừng 120 dặm, đường đi lại hiểm trở khó khăn, con đi về sao mau lẹ thế? Con coi thường (mà nói dối) ta ư?“. Toan lấy gậy đánh Tô công. Tô công quì gối thưa: „Lúc con mua cá muối ở chợ, có gặp cậu ngay tại chợ, cùng con chuyện trò, nói ngày mai cậu đến đây, xin chờ cậu tới, hầu xét hỏi hư thực.“ Mẫu thân tạm tha. Sáng sớm hôm sau, người cậu quả nhiên tới, nói ngày hôm qua có thấy Tô công có mua cá muối ở chợ Tiện huyện. Mẫu thân kinh ngạc, mới biết sự thần dị của Tô công.

Tô công thường dùng cây gậy bằng trúc, người bấy giờ gọi là ông Tô gậy trúc. Cây gậy trúc vốn là con rồng biến thành. 

Một ít năm sau, trong một ngày nọ, Tô công dùng nước rửa sạch sân cổng, sửa soạn trang trí nhà cửa. Bạn bè hỏi: „ Sắp đón tiếp ai vậy?“. Tô công đáp: „ Sắp có thần tiên thân thiết giáng lâm.“ Trong khoảnh khắc sau, thấy nơi phía chân trời tây bắc, giữa đám mây tím lãng đãng, có mười con chim hạc trắng đương dương cánh bay, đoạn nhẹ nhàng đáp xuống trước cổng nhà Tô công. Mười con chim hạc bỗng hóa thành những thiếu niên trẻ, chừng mười tám, mười chín tuổi, hình dáng xinh đẹp, trang trọng, từ từ tiến vào. Tô công y phục chỉnh tề, đi ra đón tiếp. Tô công (tới) quì trước mẫu thân, thưa: „Con thừa mệnh trời đang là người thần tiên, đến hẹn được gọi về, nghi vệ đã đến đón con, (nên) con phạm lỗi không thể chăm sóc phụng dưỡng mẹ được, xin lạy tội từ giã mẫu thân.“ Mẹ con sụt sùi khóc lóc.

Mẫu thân nói: „Sau khi con rời đi rồi, mẹ biết sinh sống làm sao đây?“. Tô công thưa: „Trong năm tới thiên hạ bị bệnh dịch, trong sân có sẵn giếng nước, bên nhà có cây quýt, (những thứ ấy) thay con cấp dưỡng mẹ. Lấy nước giếng một gáo(thăng, xem chú thích sau), dùng một nhánh quýt, thì có thể trị được bệnh dịch cho mỗi người. Con xin để lại một cái rương đóng kín, mẹ nếu có thiếu sót gì, gõ vào rương, nói điều mong muốn, sẽ được đáp ứng ngay. Cẩn thận chớ mở cái rương ấy!“ Thưa xong, ra cửa, bồi hồi ngoái cổ nhìn mẹ, đoạn tung mình đi vào mây, chỉ thấy đám mây tím bay theo gót chân, đàn chim hạc trắng vỗ cánh theo bên cạnh, cùng hướng lên trời mà bay. 

Năm sau quả nhiên có bệnh dịch, xa gần người ta đến để nhờ thân mẫu Tô công chữa trị, chỉ cần đến nước giếng cùng với nhánh quýt, không ai không chữa khỏi bệnh. Một khi thấy thiếu và cần gì, gõ vào cái rương thì được đáp ứng tức thời. Sau đó ba năm, thân mẫu lòng thắc mắc, bèn mở nắp rương ra xem, chỉ thấy hai con chim hạc trắng từ trong rương bay ra; từ đó về sau, khi gõ vào rương để cầu xin, thấy không còn linh ứng nữa.

Thân mẫu Tô công sống hơn trăm tuổi, vào một ngày nọ, không bệnh tật gì qua đời, người trong làng cùng nhau chôn cất bà, như lễ nghi thông thường của người đời. Sau khi an táng xong, chợt thấy phía đông bắc  châu Sâm, nơi đỉnh núi Ngưu Tị sơn có mây tím che phủ, lại nghe tiếng người gào khóc thương, đoán biết  đó là Tô Tiên công khóc mẹ.

Quan quận thú (quan chủ quản quận Quế dương) với người làng cùng họp nhau kéo đến bên núi tìm cách an ủi, họ chỉ nghe tiếng khóc mà không thấy bóng dáng Tô công. Quận thú cùng người làng khẩn khoản xin được thấy mặt Tô công, trên không trung có tiếng trà lời: „Ta xa rời thế gian rất lâu ngày, diện mạo hình thể đã thay đổi khác thường, nếu nay xuất hiện, e rằng gây sự kinh dị, sợ hãi cho các người“. Chúng nhân nằng nặc mong muốn, Tô công phải xuất hiện nửa phần mặt, lộ ra một tay, đều có lông chim nhỏ, trông rất dị thường so với người trần. Nhân đó Tô công nói với quan quận thú và người làng, rằng: „(Cảm tạ) xa xôi thăm viếng, ủy lạo, đường sá khó khăn hiểm trở, nay khó về theo lối cũ, nên các người có thể theo đường thẳng mà về, song (trên đường đi) đừng quay đầu nhìn lại“. Dứt lời mọi người thấy một chiếc cầu treo bên đỉnh núi, nối liền với nơi quê nhà, chỗ quận thành. Chúng nhân lên cầu đi được một khoảng, có một vị quan lại, quay đầu ngoái nhìn, chiếc cầu treo biến mất, chúng nhân cùng rơi xuống bến sông, lại thấy một con rồng đỏ dưới (chân) cầu, uốn lượn bay khuất. 

Nơi Tô công khóc thương mẹ, có hai nhánh của cây quế trúc, dù rằng không có gió, hai nhánh trúc (lay động) quét sạch, chốn ấy luôn luôn sạch sẽ. Sau ba năm, không còn nghe tiếng khóc nữa, chúng nhân lại thấy một con ngựa trắng thường hiện ra trên đỉnh núi, nên đổi tên núi Ngưu Tị sơn thành Bạch Mã lĩnh. Từ đấy về sau có một con hạc trắng, thường bay tới đậu trên lầu nơi phía đông bắc huyện thành. Có người dùng ná lấy đạn bắn chim ấy, chim hạc trắng bèn dùng móng chân quặp lấy hòn đạn, (lại) viết trên bảng của lầu, tựa như dùng sơn, rằng: „Thành quách vẫn vậy, chúng nhân cũ không còn, đã qua ba trăm lần Giáp Tí quay về, ta là Tô quân đây, đạn tới ta sao được?“

            //Có thể dịch khác:…

Đã qua ba trăm lần Giáp Tí trở về, ta là Tô quân đây! Các người cớ sao dùng đạn bắn ta? 

Cho đến nay những người tu đạo tiên, mỗi khi tới ngày Giáp Tí, đến nơi ở của Tô công, đốt hương hành lễ.

 

B.    Khảo dị và chú thích: 

[I] Khảo dị:

1.     Khảo dị về nội dung truyện:

~Trong Thái Bình Quảng Ký太平廣 記, (trang 92) sau khi ghi truyện Tô Tiên công, phần phụ có dẫn một dị bản (một truyện khác) về Tô Tiên công, trích từ Động Tiên truyện洞 仙 傳, tạm dịch như sau: 

Lại có truyền thuyết nói rằng, Tô Đam là người Quế dương. Thưở trẻ đã nổi tiếng là người con chí hiếu. Mẫu thân muốn ăn món canh cá (ngư canh 魚 羮). Đam đến chợ Hồ châu (湖 州có bản viết Tương châu 湘 州) để mua. Chợ cách nhà đến 1400 dặm. Trong khoảnh khắc mua canh cá trở về. Chú của Đam làm quan nơi Hồ châu, ở chợ có thấy Đam, gửi thư đem về nhà. Người nhà rất kinh ngạc. Sau, Đam thưa với mẫu thân: Đam nhận mệnh trời làm tiên nhân, sắp xa nên mắc tội không cung dưỡng mẫu thân được, để lại nhà hai cái mâm, muốn ăn gì, gõ vào cái mâm nhỏ; muốn được tiền bạc hay lụa là, gõ vào cái mâm lớn. Các điều ước muốn sẽ được toại nguyện ngay. Người trong làng lấy làm kỳ lạ về việc đó. Họ thưa quan sở tại. Quan xét ở các mâm, chẳng tìm thấy gì cả, song thân mẫu của Đam dùng nó như phép thần. Lúc bấy giờ khi Đam rời đi, nói rằng, năm nay có dịch bệnh lớn, người chết vì dịch bệnh hơn nửa, nơi nhà có giếng nước, dùng nước đó uống sẽ khỏi bệnh. Quả đúng như lời Đam nói. Nhà cửa yên lành (Hạp môn yên cát). Thân mẫu sống hơn trăm tuổi thì mất. Nghe trên núi có tiếng khóc thương, sau mãn tang thì hết nghe. Trăm họ do vậy lập đền thờ. 

~Trong Thái Bình Ngự Lãm太平 御 覽 (Q. III, q. 662, trang 2956 ghi truyện về Tô Tiên công có ít nhiều khác biệt:

Cát Hồng trong Thần Tiên Truyện chép: „Tô Tiên công tên Lâm林 tự là Tử Huyền子 玄, người thời Châu Vũ Vương周 武 王. Nhà ở Bộc dương濮 陽, Khúc Thủy lâm曲 水 林. Thủơ nhỏ mồ côi cha, được biết tiếng là người hiếu thảo, nhân đức. Nhà nghèo, phải tự chăn bò. Đắc đạo (tu tiên). Mẹ muốn ăn cá muối, Tô công gác đũa trên mâm, cầm tiền đi mua cá. Khoảnh khắc đem cá muối về. Thân mẫu nói, cá muối có ở chợ Tiện huyện, từ đây đến chỗ chợ xa hơn trăm dặm. Ngươi khinh ta (nói dối) ư? Tô công quỳ thưa: Không dám dối trá, ngày mai cậu đến sẽ rõ. Cậu cho biết thấy Tô công mua cá muối ở chợ huyện. Thân mẫu mới kinh ngạc vì Tô công quả thần dị. Sau khi tiên công rời nhà, thời gian sau có con chim hạc trắng về đậu trên lầu ở phía đông bắc quận thành. Lấy móng chim vẽ trên bảng treo của lầu, tựa như dùng sơn để viết rằng, thành quách vẫn thế, người xưa không còn. Nay còn chỗ ở cũ của Tô công. Còn có truyện về Đinh Lịnh Uy tương tự. 

//XT xét:

Mặc dù sách Thái Bình Ngự Lãm và Thái Bình Quảng Ký đều cùng do nhóm Lý Phưởng đời Tống sọan, song khi chép truyện về Tô công, ở mỗi sách, truyện được chép có khác nhau (xem dẫn trên). Không rõ do đâu. Sách có ghi, Cát Hồng trong Thần Tiên truyện chép… Song nguyên bản của Thần Tiên truyện chẳng thấy chép tên và xuất xứ khác như trong Thái Bình Ngự Lãm … 

~ Trong Thủy Kinh chú水 經 注, Bắc Ngụy 北 魏. Li Đạo Nguyên chú 麗 道 元, ở  Q. 39, Lỗi thủy 耒水, (Bản Nhạc Lộc Thư Xã) trang 568 ghi sự tích này dưới phần về Quế dương: 

“… 黃 溪 東 有 馬 嶺 山, 高 六 百 餘 丈, 廣 圓 四 十 許 里 .漢 末 ,有 郡 人 蘇 耽 ,栖 遊 此 山.”桂 陽 列 仙 傳 云 ”: 耽, 郴 縣 人 .少 孤, 養 母 至 孝 .言 語 虛 無, 時 人 謂 之 痴. 常 與 衆 兒 共 牧 牛, 更 直 為 帥 ,隷 牛 無 散. 每 至 耽 為 帥 ,牛 輒 徘 徊 左 右 不,逐 自 還 .衆 兒 曰 :“汝 直, 牛 何 道不 走 那?” 耽 曰 :“汝 非 曹 所 知.” 即 面 辭 母 云.”受 性 應 仙 ,當 違 供 養.” 涕 泗 .又 說 :“年 將 大 疫 ,死 者 略 半. 穿 一 井 飲 水 ,可 得 無 恙 .如 是 有哭 聲 甚 哀. 後 見 耽 乘 白 馬, 還 此 山中, 百 姓 為 立 墰 祠, 民安 歲 登, 民 因 名 為 馬 嶺 山… 

“… Hoàng khê đông hữu Mã Lĩnh sơn, cao lục bách dư trượng, quảng viên tứ thập hứa lý. Hán mạt, hữu quận dân Tô Đam, tê du thử sơn. “Quế Dương Liệt Tiên Truyện” vân: ”Đam, Xẩm huyện nhân. Thiếu cô, dưỡng mẫu chí hiếu. Ngôn ngữ hư vô, thời nhân vị chi si. Thường dữ chúng nhi mục ngưu, cánh trực vi sư, lục ngưu vô tán, mỗi chí Đam vi súy, ngưu chiếp bồi hồi tả hữu, bất trục tự hồi. Chúng nhi viết : « Nhữ trực, ngưu hà đạo bất tẩu na ? » Đam viết : « Phi nhữ tào sở tri. » Tức diện từ mẫu vân: «Thụ tính ứng tiên, đương vi cung dưỡng.» Thế tứ. Hựu thuyết : « Niên tương đại dịch, tử giả lược bán. Xuyên nhất tỉnh ẩm thủy, khả đắc vô dạng. Như thị hữu khốc thanh thậm ai. Hậu kiến Đam thừa bạch mã, hoàn thử sơn trung. Bách tánh vi lập đàn từ, dân an tuế đăng, dân nhân danh vi Mã Lĩnh sơn…:

Tạm dịch:…

Phía đông Hoàng khê có núi Mã Lĩnh sơn, cao hơn 600 trượng, chu vi chừng 40 dặm. Cuối thời Hán, có người dân trong quận (quận Quế dương) là Tô Đam, lưu trú qua lại nơi núi này. Sách Quế Dương Liệt Tiên Truyện nói: “Đam, người huyện Sâm. Thủơ  nhỏ mồ côi cha, nuôi mẹ rất có hiếu. Ngôn ngữ của Đam vô thường, người bấy giờ cho là kể điên rồ. Thường cùng trẻ đi chăn bò, được tôn làm người đứng đầu, bò được Tô chăn không chạy tứ tán, mỗi khi Đam chủ trì chăn bò, đàn bò luẩn quẩn hai bên, không cần xua đuổi tự quay về. Trẻ mục đồng nói: “Ông chăn bò, cách sao bò chẳng chạy bậy?” Đam nói: “Chuyện ấy chúng mày không được biết”. Ngay thời từ biệt mẹ, thưa: “Được nhận mệnh là tiên nhân, nay phạm lỗi vì không cung dưỡng thân mẫu.” Sụt sùi khóc lóc. Lại nói: “Năm tới có dịch bệnh lớn, người chết chừng quá nửa. Dùng nước giếng uống, có thể khỏi bệnh”. Bấy giờ có tiếng khóc bi thương. Sau thấy Đam cưỡi một ngựa trắng, quay về nơi giữa núi, trăm họ lập đàn cúng, dân được yên, năm tháng ổn. Người dân do đó đặt tên núi là Mã Lĩnh sơn. 

Vì truyện chép trong Thủy Kinh chú vắn tắt, khó hiểu, nên trong Thủy Kinh Chú Sớ水 經 注 疏, Bản in của Giang Tô Cổ Tịch Xuất bản Xã xb江 蘇 古 籍 出 版 社, Bắc Ngụy Li Đạo Nguyên chú (Dương Thủ Kính楊守 敬, Hùng Hội Trinh sớ 熊 會貞 疏, Đoàn Hi Trọng điểm hiệu段 熙 仲 點 校) hạ sách, trang 3215, giải thích: 

“Tiên 箋của Chu nói:”Từ chỗ “vô dạng無 樣 (không bệnh hoạn gì)” trở xuống, văn ghi có thiếu sót. Sách “Động Tiên truyện” nói: Khi Đam vừa rời đi, nói năm nay có đại dịch, số người chết quá bán. Nơi nhà có nước giếng, uống vô khỏi bệnh. Đúng như Đam đã nói. Đóng cửa được yên lành. Mẫu thân sống hơn trăm tuổi, người làng chung sức an táng, nghe trên núi cao có tiếng khóc than, sau đó thì yên.

Sách “Thần Tiên Truyện” nói: “Mẹ của Tô Đam khi đã qua đời, chôn cất xong, phía đông bắc của châu Sâm nơi núi Ngưu Tị sơn, trên đỉnh có mây tím che phủ, có tiếng kêu khóc,  biết là Tô Đam thần linh. Do chỗ thấy con ngựa trắng thường ở trên đỉnh núi, nên mới đổi tên núi Ngưu Tị sơn thành Bạch Mã lĩnh.

Thủ Kính xét: Sách Ngự Lãm, Q. 189 dẫn Quế Dương Liệt Tiên Truyện, “Tô Đam thưa với mẹ rằng, có tân khách sắp tới gặp, Đam thụ mệnh đang là người tiên, nay ở trên đón Đam về, nên phạm tội không phụng dưỡng mẫu thân được. Năn nay nhiều người bị bệnh dịch, thiểt nghĩ giếng nước có ở nhà, khi uống vào có thể khỏi bịnh. Lấy nước giếng đó mà bán đi sẽ là nguồn cung dưỡng thích đáng. Cùng theo đám tân khách (những chim hạc đến đón) mà đi.“ Nếu không có chú thích này, thì không rõ được (truyện tích), Sđd, trang 3216.

Xem thêm: Thủy Kinh Chú Sớ, Hạ sách, trang 3214-3216  

{XT:

Đoạn này có thể xem từ sách Thái Bình Quảng Ký, phần Dị truyện đã chép theo Động Tiên truyện mà người viết đã trích dẫn ở trên 

  [XT: Chú thích về núi Mã Lĩnh sơn:

  Theo Trung Quốc Cổ Kim Địa Danh Đại Tự Điển, trang 769, núi Mã Lĩnh sơn 馬 嶺 山ở về phía đông bắc của huyện Sâm 郴 縣và cách huyện chừng 5 dặm (khoảng 2,5 km ) thuộc tỉnh Hồ nam bây giờ. Núi có nhiều tên gọi khác nhau, ngoài Mã Lĩnh sơn, còn có tên Tô Tiên sơn蘇 仙 山, Ngưu Bì sơn牛 皮山, Long Đầu lĩnh龍 頭 嶺, Bạch Mã lĩnh白 馬 嶺. Dẫn Thủy Kinh chú: Sách Phương Dư Thắng Lãm: “Tô Đam thời Tấn vào núi học đạo…Mẹ Tô Đam thường ngóng theo. Thấy Tô Đam cưỡi ngựa trắng phiêu du. Cho nên gọi núi ấy là Bạch Mã lĩnh.“ 

Núi có tên Bạch Mã lĩnh còn được thấy nhiều nơi khác như ở Thiểm tây, Cam túc, Quảng tây theo sách vừa dẫn. 

Trong truyện Tô Tiên công ở sách Thần Tiên truyện nói ở trên, có ghi núi tên là Ngưu Tị sơn牛脾 山, đó cũng là tên khác trước kia của núi Bạch Mã lĩnh. 

Sách Trung Quốc Địa Danh Từ Điển, trang 424, ghi là Tô Tiên lĩnh蘇 仙 嶺. „tại tỉnh Hồ nam 湖 南, phía đông thị trấn Sâm châu 郴 州. Thế núi tráng lệ, cây cối  xanh tốt rậm rạp. Trên núi có danh thắng, cổ tích như  Bạch lộc động 白 鹿 洞(Động hươu  trắng), Tam tuyệt bi三 絕 碑 (bia Tam tuyệt), Tô Tiên quán蘇 仙 觀 (đền Tô Tiên)... Được xưng tụng là „Tương Nam thắng địa 湘 南 勝 地“ (thắng cảnh của vùng Tương nam). Truyền thuyết cho là Tô Đam thời Tây Hán triều Văn đế tu thành tiên tại đây, nên có tên gọi. Dưới chân núi có Ngọc khê 玉 溪 và Ngọc khê sơn trang 玉 溪 山 莊. Đền Tô tiên (Tô Tiên quán) được dựng vào thời Đường. Sau đền này có một tảng đá cao lớn đột ngột, tương truyền là Tô Tiên công thành tiên ở trên đá này, nên gọi là Thăng tiên thạch升 天 石, có tên gọi khác là Tô Tiên đài 蘇 仙 臺 „

[XT:

Núi Tô Tiên lĩnh bây giờ được công nhận là di sản thế giới và là địa điểm du lịch hằng năm nổi tiếng của tỉnh Hồ nam. 

Căn cứ theo sách Thủy Kinh chú (Trang 568, Bản Nhạc Lộc Thư Xã) thì „Hoàng khê đông hữu Mã Lĩnh sơn, cao lục bách dư trượng, quảng viên  tứ thập hứa lí“ như vừa dẫn trên. Theo đó núi Mã lĩnh sơn cao 600 trượng, chu vi 40 dặm. Theo Trung Quốc Độ Lượng Hành Sử trang 65, qui ra hệ thống SI, thì một xích尺 thời Đông Tấn tương đương 24,45 cm.

Vậy chiều cao của núi: (Vì cứ 10 xích là một trượng 丈, độ dài của trượng là 24,45 cm x 10 = 244,50 cm) 600 trượng: 244,50 cm x 600 =146700 cm (=1.467 m). Như vậy núi khá cao!

Và  chu vi (quảng viên ) của núi là 40 dặm (lí) = 24,45 cm x 1800 x 40 dặm = 17,604 km. 

Dữ liệu này về núi Mã Lĩnh sơn, theo Thủy Kinh chú của Li Đạo Nguyên đời Bắc Ngụy. Người viết không rõ do đâu sách trên có những ghi chép đó và có chính xác hay không. Thực tế về núi Mã Lĩnh sơn (độ cao, chu vi) người viết tiếc rằng hiện tại thiếu tư liệu để kiểm chứng. 

~ Trong Liêu Trai Chí Dị 聊 齋 志 異của Thanh. Bồ Tùng Linh 清 蒲 松 齡có truyện về Tô Tiên được Tạ Thanh Vân khi dịch chú có nhắc đến (ở sách Thần Tiên truyện, trang 356). Tạ Thanh Vân ghi:

清 代 小說 家 簿 松 齡 除 在 聊 齋 志 異 中寫了蘇 仙 公 還 吟 有 蘇 仙 故 井 猶 存 所 詩 句

… Thanh đại tiểu thuyềt gia trừ tại Liêu Trai Chí Dị trung tả liễu Tô Tiên công, hoàn ngâm hữu: “Tô Tiên cố tỉnh do tồn sở” thi cú.

Tạm dịch:

Đời Thanh, tiểu thuyết gia Bồ Tùng Linh ngoài việc chép truyện Tô Tiên công trong Liêu Trai Chí Dị, còn có thơ, rằng.”Giếng cũ Tô công chỗ có còn?” 

Người viết, tìm hiểu trong Liêu Trai Chí Dị, Túc bản chú dịch,Tinh châu Thế giới Thư cục hữu hạn công ty ấn hành, ĐL, không thấy ghi năm in, Q. hạ, q. 14, trang 1002 có ghi truyện Tô Tiên, nội dung hoàn toàn khác với truyện tích ghi trong sách Thần Tiên truyện: 

蘇 仙

高 公 明 圖, 知 郴 州 時 ,有 民 女蘇 氏, 浣 衣 於 河. 河 有 巨 石, 女 距 其 上 ,有 苔 一 縷, 綠 滑 可 愛,浮 水 漾 動, 遶 石 三 匝, 女 視 之, 心 動. 卽 歸 而 娠, 腹 漸 大, 母 私 詰 之, 女以 情 告. 母 不能 解, 數 月 更擧 一 子, 欲 寘 隘 巷 ,女 不 忍 也. 藏 諸 櫝 而 養 之, 遂 失 志 不 嫁, 以 明 其 不 二 也. 然 不 夫 而 孕, 終 以 為 羞, 兒 至 七 歲 ,未 嘗 出 以 見人.

兒 忽 謂 母 曰 :“兒 漸 長, 幽 禁 何 可長 也 ? 去之, 不為 母 累.“ 問 所 之, 曰:” 我 非 人 種, 行 將 騰 宵,昂 壑 耳.“ 母 泣 詢 歸 期, 答 曰: ” 待 母 屬 纊, 兒 始 來, 去 後, 倘 有所 需, 可 啓 藏 兒 櫝 索 之, 必 能 如 願.” 言 已, 拜 母 徑 去, 出 而 望 之 ,已 杳 矣. 女告 母, 母 大 奇 之. 女堅 守 舊 志, 與母 相 依, 而 家 益 ,落 偶 缺 晨 炊, 仰 屋 無 計, 忽 憶 兒 言, 往 啓 櫝, 果 得 來, 賴 以 擧 火, 由 是 有求 輒 應.

踰 三 年, 母 病 卒, 一 切 葬 具, 皆 取 給 於 櫝. 卽 葬, 女 獨 居 三 十 年, 未 嘗 窺 戶 .一 日 鄰 婦 乞 火 者, 見 其兀 坐 空 閨, 語 移 時 始 去. 居 無 何, 忽 見 彩 雲 繞 女 舎, 亭 亭 如 蓋, 中 有 一 人 盛 服 立, 審 視 則 蘇 女 也, 逥 翔 久 之, 漸 高 不 見. 鄰  人 共 疑 之,窺 諸 其 屋, 見 女 靚 糚 凝 坐, 氣 則 已 絕, 衆 以 其 無 歸, 議 為 殯 殮. 忽 一 少 年 人,寷 姿 俊 偉, 向 衆 申 謝, 鄰 人向 亦 竊 知 女 有 子, 故 不 之 疑. 少 年 出 金 葬 母, 植 二 桃 於 墓, 乃 別 而 去. 數 步 之 外, 足 下 雲 生, 不 可 復 見. 後 桃 結 實 甘 芳, 居 人 謂 蘇 仙 桃 樹, 年 年 華 茂, 更 不 衰 朽. 官 是 地 者, 每 攜 實 以 餽 親 友.

Cao công Minh Đồ, tri Sâm châu thời, hữu dân nữ Tô thị, hoán y ư hà. Hà hữu cự thạch, nữ cứ kỳ thượng, hữu đài nhất lũ, lục hoạt khả ái, phù thủy dạng động, nhiễu thạch tam tạp, nữ thị chi, tâm động, ký qui nhi thần, phúc tiệm đại, mẫu tư cật chi, nữ dĩ tình cáo. Mẫu bất năng giải, sổ nguyệt cánh cử nhất tử, dục trí ải hạng, nữ bất nhẫn dã. Tàng chư độc nhi dưỡng chi, toại thất chí bất giá, dĩ minh kỳ bất nhị dã. Nhiên bất phu nhi dựng, chung dĩ vi tu, nhi chí thất tuế, vị thường xuất dĩ kiến nhân.

Nhi hốt vị mẫu viết: “Nhi tiệm trưởng, u cấm hà khả trưởng dã? Khứ chi, bất vi mẫu lụy.” Vấn sở chi, viết: “Ngã phi nhân chủng, hành tương thắng tiêu, ngang hác nhĩ.” Mẫu khấp tuân qui kỳ, đáp viết: “Đãi mẫu thuộc khoáng, nhi thủy lai, khứ hậu thảng hữu sở nhu, khả khải tàng nhi độc sách chi, tất năng như nguyện.” Ngôn dĩ, bái mẫu kinh khứ, xuất nhi vọng chi, dĩ yểu hĩ. Nữ cáo mẫu, mẫu đại kỳ chi. Nữ kiên thủ cựu chí, dữ mẫu tương ỷ, nhi gia ích lạc, ngẫu khuyết thần xuy, ngưỡng ốc vô kế, hốt ức nhi ngôn, vãng khải độc, quả đắc lai, lại dĩ cử hỏa, do thị hữu cầu chiếp ứng.

Dũ tam niên, mẫu bịnh tốt, nhất thiết tang cụ, giai thủ cậy ư độc. Ký tang, nữ độc cư tam thập niên, vị thường khuy hộ. Nhất nhật lân phụ khất hỏa giả, kiến kỳ ngột tọa không khuê, ngữ di thời thủy khứ. Cư vô hà, hốt kiến thái vân nhiễu nữ xá, đình đình như cái, trung hữu nhất nhân thịnh phục lập, thẩm thị tắc Tô nữ dã, hồi tường cửu chi, tiệm cao bất kiến. Lân nhân cộng nghi chi, khuy chư kỳ ốc, kiến nữ tịnh trang ngưng tọa, khí tắc dĩ tuyệt, chúng dĩ kỳ vô qui, nghị vi tấn liễm. Hốt nhất thiếu niên nhân, phong tư tuấn vĩ, hướng chúng thân tạ, lân nhân hướng diệc thiết tri nữ hữu tử, cố bất chi nghi. Thiếu niên xuất kim táng mẫu, thực nhị đào ư mộ, nãi biệt nhi khứ. Sổ bộ chi ngoại, túc hạ vân sinh, bất khả phục kiến. Hậu đào kết thực cam phương, cư nhân vị chi Tô Tiên đào thụ, niên niên hoa mậu, cánh bất suy hủ. Quan thị địa giả, mỗi huề thật dĩ quỹ thân hữu.       

Tạm dịch:

[XT Chú:

Trong bản dịch Việt ngữ, người viết đã thay đổi câu cú (chấm câu, phân đoạn) để thích hợp với ngữ văn Việt. Trong nguyên bản, thường ít phân đoạn bằng dấu chấm, phẩy (Bản in của Tinh châu Thế giới Thư cục…) Riêng trong bản Nhạc Lộc Thư xã (bản in năm 2004, lần 15), trang 89, bản in theo lối giản thể, chấm câu tương xứng với mạch văn, ý văn, sự phân đoạn có phần hợp lý hơn.

Những chữ trong ngoặc đơn (…) là do người dịch thêm vào để cho văn ý được rõ ràng. 

Tô Tiên

Thời ông Cao Minh Đồ, làm quan lịnh đất Sâm châu (thuộc Quế dương quận, tỉnh Hồ nam ngày nay), trong dân có người thiếu nữ họ Tô, giặt giũ quần áo ở trên sông. Bên sông có tảng đá lớn, thiếu nữ ngồi lên tảng đá ấy. (Nàng thấy) trong đám rêu có một cộng rong, màu xanh mướt rất dễ thích, bềnh bồng xao động trên nước. Cộng rong trôi quấn quanh tảng đá ba vòng, thiếu nữ nhìn xem (cảnh ấy), trong lòng giao động, khi trở về, thành như thai nghén, bụng  càng lớn. Thân mẫu chất vấn chuyện đó, thiếu nữ thật lòng kể rõ sự tình. Thân mẫu không (biết) giải quyết thế nào. Sau nhiều tháng, (nàng) sinh hạ một đứa con. Người nữ ý muốn đem con bỏ nơi hẻm đường vắng, song nàng (lại) không đành lòng, (nên) dấu đứa con trong một chiếc rương bằng gỗ để nuôi dưỡng. (Nàng) lại không có ý định lấy chồng, cốt tỏ ra người không hai lòng (chung thủy). Tuy nhiên vì không chồng mà chửa, thiếu nữ luôn thấy xấu hổ. Đứa bé đến bảy tuổi, chưa hề ra khỏi cái rương để thấy người ta. 

(Một ngày nọ) đứa bé chợt thưa với mẹ: „Con dần lớn khôn, cứ giữ ngặt mãi trong rương tối thì làm sao phát triển được, con muốn rời đi, để mẹ khỏi lo lắng, phiền lụy.“ Nàng hỏi, con đi đâu? Thưa: „Con không phải là người đồng loại, muốn xa rời trần thế tu tiên, cao xa nơi sơn cốc hẻo lánh“. Mẹ hỏi, khi nào con trở về? Thưa: „Đợi gặp mẹ khi lâm chung, (lúc đó), con mới trở về. Lúc con đi rồi, một khi mẹ có cần những gì, có thể mở cửa cái rương, nơi dấu nuôi con, nói yêu cầu của mình, sẽ được có như mong muốn.“ Nói xong lạy mẹ ra đi, (nàng) ra trông theo con, bóng hình mờ nhạt dần khuất. Nàng kể chuyện cho thân mẫu, thân mẫu rất lạ lùng. Nàng vẫn giữ chí xưa, với mẹ già cùng nương tựa. Song gia cảnh sa sút, thiếu thốn bất chợt trong trưa sớm, nấu nướng đêm hôm. (Nàng) nhìn lên nhà, không có cách nào, bỗng nhiên nhớ lại lời con dặn, đến mở nắp rương, thì được gạo thóc, để lo bếp núc, do vậy mà cầu gì được nấy.

Quá ba năm sau, mẫu thân bịnh mất, mọi chuyện cho tang lễ, cũng nhờ vào cái rương ấy. Sau tang mẹ, nàng ở một mình trong ba mươi năm, trong nhà không hề thiếu thốn gì.

Một ngày nọ, bà hàng xóm đến xin lửa, thấy nàng ngồi trong nhà trống, chuyện trò một lúc, rời đi.

Đời sống chẳng có chuyện gì lạ, (cho đến một hôm) chợt thấy mây nhiều màu vây quanh trên nhà nàng trùng trùng như che phủ, ở giữa đám mây có người ăn vận chỉnh tề đang đứng, xem kỹ đúng là thiếu nữ họ Tô, bay vần lúc lâu (trong mây), dần dần lên cao, chẳng còn thấy nữa. Người hàng xóm đều sinh nghi, cùng (đến) nhìn vào nhà của nàng, thấy nàng trang điểm đẹp đẽ ngồi im như ngừng thở, thần khí đã dứt, họ đều cho rằng nàng đã quy tiên, không thể  hồi sinh được, bàn nhau cùng tẩm liệm nàng. Chợt thấy có một chàng trai trẻ, phong tư tuấn vĩ (đẹp đẽ, cao sang), hướng về người hàng xóm tỏ lòng cảm tạ, người hàng xóm chăm nhìn người thiếu niên, trộm nghi đó là con của nàng, không còn ngờ gì nữa. Chàng thanh niên đưa vàng để làm tang lễ mẹ, lại trồng nơi phần mộ mẹ hai cây đào, rồi từ biệt mà đi, được đôi bước bên ngoài, (đã thấy) dưới chân hiện đám mây, rồi không còn thấy (chàng thiếu niên) trở lại nữa. Về sau hai cây đào cho trái ngọt và thơm, người trong vùng gọi đó là cây đào Tô Tiên, năm năm tươi tốt, không bị suy hư. Khi quan chức đến vùng đó, mỗi lần đều hái trái đào để tặng cho người thân quen cùng bạn bè. 

{Ghi chú: Bản in và chú thích của nhà Xuất bản Tinh châu vừa ghi trên giống với bản in và chú thích của Văn Nguyên Thư Cục Ấn hành (thuộc bộ Trung quốc cổ điển danh trứ), ĐL 1973, tái bản. Cả hai bản in của hai nhà xuất bản có thể có cùng một để bản.

 Cùng một tên Tô tiên mà có những truyện tích khác nhau như đã thấy. 

~ Từ Nguyên (BK), Q. hạ, trang 2738 ghi:

               +Về Tô Tiên:

               蘇 仙

               指 蘇 耽 

蘇 耽 傳 說 漢 末 湖 南 郴 縣 人 少 葬 父 養 母 至 孝 一 日 忽 辭 母 登 山 成 仙 後 人或 見 耽 乘 白 馬 回 山中 百 姓 為 之立 祠 名山為 馬 嶺 山

見 水 經 注 三九 耒 水

又 晉 葛  洪 神仙 傳 九

Tô Tiên

Chỉ Tô Đam…

Truyền thuyết Hán mạt Hồ nam Sâm huyện nhân. Thiếu tang phụ, dưỡng mẫu chí hiếu. Nhất nhật hốt từ mẫu đăng sơn thành tiên. Hậu nhân hoặc kiến Đam thừa bạch mã hồi sơn trung, bách tính vi chi lập từ, danh sơn vi Mã lĩnh sơn.

Kiến Thủy Kinh chú, tam cửu, Lỗi thủy

Hựu Tấn Cát Hồng Thần Tiên truyện cửu vi Tô Tiên công, Quế Dương nhân…

Dịch:

               Tô Tiên, chỉ Tô Đam…

Truyền thuyết nói, Tô Đam là người ở huyện Sâm, tỉnh Hồ nam, vào cuối đời Hán. Thủơ nhỏ tang cha, nuôi mẹ rất có hiếu. Một ngày nọ, bỗng từ biệt mẹ lên núi, thành tiên. Người đời sau có kẻ thấy Đam cưỡi ngựa trắng quay về trong khoảng núi. Trăm họ (Dân chúng) do vậy lập miếu thờ, đặt tên núi là Mã Lĩnh sơn.

Xem Thủy Kinh chú, 39, phần về sông Lỗi.

Lại trong Thần Tiên truyện, q. chín của Cát Hồng thời Tấn cho Tô Tiên công là người Quế dương (tóm lượt chuyện Tô công hóa hạc như trong truyện đã chép ở trên)… 

//

Truyện ghi trong Từ Nguyên (BK) là bản tóm lược truyện Tô Tiên công trong Thần Tiên truyện.

 

~ Truyện về Đinh Lịnh Uy có phần cuối tương tự như truyện Tô Tiên công mà sách Thái Bình Ngự Lãm đã có đề cập đến (Xem đã dẫn)

 

Sách Trung Quốc Thần Thoại Truyền Thuyết Từ Điển, trang 3 và Từ Nguyên (BK), Sách hạ, trang 3088, ghi về sự tích Liêu hạc cùng Đinh Lịnh Uy) như sau:

舊 題 晉 陶 潛 搜 神 後 記 一 丁 令 威 丁 令 威 本 遼 東 人 學 道 于靈 虛 山 後 化 鶴 歸 遼 集 城 門 華 表 柱 時 有 少 年 擧 弓 射 之 鶴 乃 飛  徘 徊 空 中 而 言 曰 有 鳥 有 鳥 丁 令 威 去 家 千 年 今 始 歸 城 都 如 故 人 民 非 何 不 學 仙 冢 壘 壘 遂 高 上 沖 天 後 常 用 以 指 重 游 舊 地 之 人

Cựu đề Tấn Đào Tiềm Sáp Thần Hậu Ký nhất, Đinh Lịnh Uy: „Đinh Lịnh Uy bản Liêu Đông nhân, học đạo vu Linh Hư Sơn, hậu hóa hạc qui Liêu, tập thành môn hoa biểu trụ. Thời hữu thiếu niên cử cung dục xạ chi. Hạc nãi phi, bồi hồi không trung nhi ngôn viết: “Hữu điểu hữu điểu Đinh Lịnh Huy, khứ gia thiên niên kim thử qui, thành quách như cố nhân dân phi, hà bất học tiên trủng lũy lũy“ toại cao thuợng xung thiên“.

Hậu thường dụng dĩ trùng du cựu địa chi nhân. 

Dịch:

Xưa ghi rằng, Đào Tiềm thời Tấn trong Sáp Thần Hậu Ký, thứ nhất, ghi về Đinh Lịnh Uy: „Đinh Lịnh Uy vốn người Liêu Đông, học đạo ở Linh Hư Sơn, sau biến thành chim hạc quay về Liêu Đông, đậu tại chỗ trụ cây nêu nơi cửa thành. Lúc đó có một cậu nhỏ, dương cung muốn bắn chim hạc. Hạc bay đi, ở trên không trung bàng hoàng mà nói rằng: “ Có con chim, có con chim, đó là Đinh Lệnh Uy, rời nhà đã ngàn năm, nay trở về, thành quách như cũ, những người xưa không còn, sao chẳng học đạo tiên nơi gò đống phiêu diêu“, đoạn bay vút lên trời.“ 

Ở trên vừa dẫn là truyện tích về Tô Tiên công dựa trên cổ tịch mà người viết hiện có. Vì là truyền thuyết nên có thể trong dân gian truyền về Tô Tiên công không giống như đã ghi.

 

2.     Khảo dị về các chi tiết và từ ngữ khác:

Trong các sách thượng dẫn, khi chép về sự tích Tô Tiên công, có nhiều chi tiết (và tình tiết) khác nhau, ngoài ra cũng có một số từ ngữ, khái niệm khác biệt.   

2.1.         Về cá nhân, tên nhân vật 

a.      Về tên người: Các sách đều ghi là Đam耽, ngoại trừ Thái Bình Ngự Lãm ghi là tên Lâm林, tự Tử Huyền子玄

          (Xem dẫn ở trên)

b.      Về nơi sinh: Thái Bình Quảng Ký, Thần Tiên truyện cũng như Thủy Kinh chú (trang 568, bản Nhạc Lộc Thư xã, đã chép: „Quế dương Liệt tiên truyện“ nói: Đam, người huyện Sâm...) đều ghi thuộc người Quế dương, huyện Sâm. Từ Nguyên (BK) ghi là huyện Sâm tỉnh Hồ nam theo địa dư ngày nay. 

Riêng trong Thái Bình Ngự Lãm ghi là quê Bộc dương, Khúc thủy lâm như có chép ở phần trên

c.      Về niên đại:

Sách Thái Bình Quảng Ký, Thần Tiên Truyện ghi thời Hán Văn đế, Từ Nguyên (BK) ghi thời Hán mạt (cở chừng năm 24 sau TL trở về trước).

Thái Bình Ngự Lãm ghi thời Châu Vũ vương (1122-1119 trước TL).

 Tạ Thanh Vân trong Thần Tiên truyện, phần Đề giải 題 解, trang 355 ghi:

  蘇 仙 公 為 漢 代 人,名 蘇 耽 ,三 國 孫 吳 張 勝 撰 „桂 陽 先賢 傳“ (唐 魏 徵 “ 隋 書,< 經 籍 志>“ 作 „桂 陽 先 賢 畫 讚“) 中 記 有 其 故 事, 后“神 仙 傳“, 北 魏 酈 道 元 „水 經 注 „等 皆 有引 用.

Tô Tiên công vi Hán đại nhân, danh Tô Đam, Tam quốc Tôn Ngô Trương Thắng soạn „Quế dương Tiên hiền truyện“ (Đường .Ngụy Trưng „Tuỳ thư,<Kinh tịch chí>“ tác „Quế dương Tiên hiền Họa tán“) trung ký hữu kỳ cố sự, hậu „Liệt Tiên truyện“, Bắc Ngụy Li Đạo Nguyên,“Thủy Kinh chú“ đẵng giai hữu dẫn dụng.

Tô Tiên công là người đời Hán. Tên là Tô Đam. Tôn Ngô, Trương Thắng soạn sách „Quế dương Tiên hiền truyện“, (Ngụy Trưng đời Đường trong „Tùy thư,<Kinh Tịch chí>“ chép „Quế dương Tiên hiền họa tán“) trong đó có chuyện xưa về Tô công. Sau „Thần Tiên truyện“ của Cát Hồng, Li Đạo Nguyên trong „Thủy Kinh chú“ cũng có ghi chép về truyện này.

  [Chú:

-Niên hiệu Hán Văn đế 漢文 帝 (202-157 trước TL), tức Hiếu Văn đế. Tên Hằng恆, con trai thứ tư trong số 8 người con trai của Hán Cao đế (Lưu Bang劉 邦), được phong làm Đại vương代 王(chức vương đất Đại) sau khi Cao tổ bình định đất Đại 代. Năm 180 trước TL, sau khi Lã Hậu呂 后 mất, loạn Lã Hậu được bình định, Đại vương Hằng được các đình thần Chu Bột周 勃, Trần Bình 陳 平đón về lên ngôi đế (180 trước TL). Tại vị từ năm 180 đến năm 157 trước TL, ở ngôi 23 năm. Văn đế chủ trương Dữ dân hưu tức以 民 休 息 , giảm sưu thế địa tô trong vòng 12 năm, phế bỏ hình phạt khắc nghiệt, phát triển nông nghiệp, tiết chế các thế lực chư hầu của các vương, trung ương tập quyền, do vậy kinh tế trong nước dần khôi phục, chính trị ổn định. Sự nghiệp của Văn đế được hậu thế xưng tụng cùng với đế nghiệp của Cảnh đế 景 帝 (con của Văn đế) là thời kỳ

„Văn Cảnh chi trị“. 

Xem Từ Hải (TH), Q. trung, trang 2313

Từ Nguyên (BK) Q. hạ, phần về Hán Văn đế). 

//Xem thêm Sữ Ký, I, quyển thập, Hiếu Văn Bản Kỷ, đệ thập,  từ trang 412 đến trang 438, bản Trung Hoa Thư Cục. 

Qua đó, nơi sinh của Tô Đam là Sâm huyện theo các cổ thư và theo truyền thuyết. 

      2.2.Về các chi tiết trong truyện:

a.  Món ăn của mẫu thân:

Sách Thái Bình Quảng Ký và Thần Tiên truyện ghi là trã 鮓món cá muối (hay cá thính ?, hoặc mắm?)

Xem thêm phần Chú thích tiếp theo sau 

Dị bản chép trong Thái Bình Quảng Ký ghi là canh cá (ngư canh魚 羹 )

 b.      Về chỗ mua món cá:

 Sách Thái Bình Quảng Ký, Thần Tiên truyện đều ghi là Tiện huyện. Tiện huyện cách chỗ ở của Tô công chừng 120   dặm. 

Về Tiện huyện, Thủy Kinh Chú Sớ, trang 3216 

Theo Trung Quốc Độ Lượng Hành Sử, trang 65, thì một xích thời Đông Tấn chừng 24,45 cm. Như vậy khoảng cách giứa Sâm huyện và Tiện huyện là:

120 dặm x 434,16 m (kích thước của dặm) = 52,099 Km theo hệ thống SI là khoảng 52 Km. Kích thước này tương đương kích thước trên bản đồ của Trung Quốc Lịch Sử Địa Đồ Tập, đệ nhị sách, trang 22-23 (Đông Tấn) cũng theo đường chim bay… 

Cả hai huyện trên thuộc quận Quế dương. Sâm huyện là quận lị Quế dương. Sông Lỗi có dòng chảy chính qua vùng Tiện huyện.

Do đó, như trong truyện Tô Tiên công đã chép, khi một vị quan trong huyện vì không giữ lời dặn của Tô Tiên công, ngoái nhìn lại phía sau, cầu đứt, mọi người đều rơi xuống bên sông, thiển nghĩ có thể đây là một bến nước của sông Lỗi. 

Dị bản trong Thái Bình Quảng Ký ghi là chợ cá ở Hồ châu (có bản ghi là Tương châu).

Chợ cá Hồ châu cách nơi Tô công ở 1400 dặm!

(Theo SI một xích thời Tống là 30,72 Cm, một dặm cở chừng 530 m. 1400 dặm vị chi là 742 Km! (Trung Quốc Độ Lượng Hành Sử, Trang 66) 

c.      Về việc chăn bò (Mục ngưu):

Sách Thủy Kinh chú ghi là Tô công được trẻ chăn bò tôn làm súy , người đứng đầu bọn mục đồng (cánh trực vi súy), các sách khác không thấy ghi, chỉ ghi là ngưu lang. 

d.      Về nhân chứng cho việc mua cá:

Bản Thái Bình Quảng Ký (cùng Thần Tiên   truyện) ghi là ông cậu ở chợ Tiện huyện. Trong Dị truyện ghi là người chú (bác) của Đam làm quan ở Hồ châu, có gặp Đam và nhờ cầm thư về nhà. 

e.      Về sự tích chữa bệnh dịch:

Sách Thái Bình Quảng Ký ghi là dùng nước giếng một thăng, một nhánh lá quýt (quất diệp nhất mai), sách Thần Tiên truyện ghi tương tự, tuy chữ dùng có khác (quất hộ trong Thần Tiên truyện, quất diệp trong Thái Bình Quảng Ký)

Riêng trong Thủy Kinh chú chỉ ghi dùng nước giếng uống để trị bệnh (nhất thăng ẩm thủy), trong Thái Bình Ngự Lãm không thấy ghi việc này.

[ XT:

Một thăng 升 dung lượng thời Đông Tấn trong sách Trung Quốc Độ Lượng Hành Sử, trang 71 tương đương 0,2023 lít tức khoảng môt ly nước theo chuẩn SI bây giờ (Một ly chừng 0,2 lít, tức 200 ml).

 

f.       Về đồ vật mà Tô công để lại cho mẫu thân dùng vào việc phụng dưỡng: 

Đó là cái rương bằng gỗ. Cái rương này được ghi:

+ là quỹ櫃  theo sách Thái Bình Quản Ký)

+ là cự 秬, theo Thần Tiên truyện  có nghĩa tương tự.

Chữ cự 柜này trong Từ Hải (ĐL) Q. hạ, (trang 1483), giải thích đó là chữ quỹ 櫃 mà Tô nhân蘇 人 (người đất Tô, tức người Giang Tô) gọi. Cái rương (người miền Bắc gọi là cái hòm), được dùng để đựng vật dụng trong nhà như quần áo, chăn gối hay các gia dụng khác.

Từ Hải (BK), Q. trung, trang 3475 giải thích櫃là chữ phồn thể của chữ cự 柜.

Do vậy, để chỉ cái rương làm bằng gỗ có nhiều từ khác nhau như, quỹ 櫃, cự柜…

(Trong Liêu Trai Chí Dị, truyện Tô Tiên, dùng chữ độc櫝 để chỉ cái rương) 

+ Riêng trong Dị truyện ghi là Tô công để lại cho mẹ hai cái mâm盤, lớn nhỏ và công dụng khác nhau (Xem dẫn trên) 

       2.3.Về từ ngữ có dạng khác nhau:

Tùy theo kiểu chữ (phồn thể trong Thái Bình Quảng Ký) và giản thể (trong Thần Tiên truyện) hoặc được chép khác ví dụ như chữ trợ 筯, trứ 箸 hoặc các chữ khác đã ghi trên.

~ Về chữ ngưu牛: Nghĩa đúng ra là chỉ bò, khác với trâu. Chỉ trâu có từ thủy ngưu 水牛 . Mục ngưu 牧 牛là chăn bò. Ta thường dùng chăn trâu bò nói chung hay có khi dùng chỉ chăn trâu.

~ Chữ nhĩ爾  trong ThầnTiên truyện ghi là nhữ汝

Chữ hậu trong cổ thư được viết 後, Trong lối chữ giản thể ở lục địa được viết dưới dạng后 như ở Thần Tiên truyện hoặc các tác phẩm khác của Hoa lục.

~ Chữ sái 灑 trong bản Thần tiên truyện ghi lối giản thể (bộ thủy + tây氵西)

~ Chữ dư鮽 thường viết lối giản thể là 余như trong Thần Tiên Truyện

Tương tự các như như tuế 嵗, hương 鄉trong Thần Tiên truyện cũng được viết khác…

Ngoài ra có chữ  ư於 và vu于, chữ tức 即 / 旣như đã có nói phần trên 

~ Về câu cú:

Câu: Xích long ư cước hạ赤 龍 於  脚 下, trong Thần Tiên truyện ghi…vu kiều hạ 赤 龍 于 橋 下

Câu Đạn hà vi 彈 何 為 (Sao mà bắn đạn ta) trong Thần Tiên truyện ghi: Đạn hà vi chí彈 何 為 至 (Đạn làm sao đến (trúng) được). Câu cuối trong Thái Bình Quảng Ký ghi: Chí kim tu đạo chi nhân 至 今 修 道 之 人 (Cho đến nay những người tu đạo (tiên), trong Thần Tiên Truyện ghi: 今 修 道 之 人Kim tu đạo chi nhân (Hiện nay nhũng người tu đạo (tiên).

Theo đó ý nghĩa có chỗ khác! 

Hiện tượng khác biệt vừa dẫn là hiện tượng tương đối phổ thông trong cổ tịch. Ngưới trước ghi chép như thế, có thể người sau chép y nguyên hay chép khác đi và suy diễn không cùng ý nghĩa, nội dung có sẵn. Tam sao thất bản cũng có thể là một lý do. 

[II] Chú thích 

1.      Về tên Tô Công: Xem trên, phần dị bản. Có hai ghi chép khác nhau, phần lớn ghi tên Đam (trừ Thái bình Ngự Lãm ghi tên Lâm)

Sự tích của Tô Tiên công (Dẫn và dịch theo Tạ Thanh Vân, Thần Tiên truyện, trang 355-356): 

Tô Tiên công 蘇 仙 公là người đời Hán漢 代. Tên là Tô Đam蘇 耽. Thời Tam quốc 三 國 dưới triều Tôn Quyền của nước Ngô có Trương Thắng soạn Quế Dương Tiên hiền Truyện ; Ngụy Trưng thời Đường trong Tùy thư,< Kinh tịch chí >ghi rằng trong Quế Dương Tiên Hiền Họa Tán có ghi sự tích của Tô công. Về sau trong sách Thần Tiên truyện, trong Thủy Kinh chú của Bắc Ngụy Li Đạo Nguyên đều có chép sự tích của Tô công.

Tương truyềnTô Tiên công là người được biết đến trong giới chuyên về thảo dược. Thời nhỏ phụ thân mất sớm, nuôi mẹ chí hiếu, được nổi tiếng về việc dùng nhành lá quýt cùng nước giếng để chửa trị bệnh dịch cho dân chúng, quan hệ đến việc bản thân có thể biến hóa thành tiên nhân. Trong thời Minh, điển cố „Tô Đam quất tỉnh“ được ghi chép trong sách Long Văn Tiên Ảnh 龍 文 鞭 影 (Long văn là một loài tuấn mã, tức ngựa giỏi, tiên ảnh là bóng của cây roi dùng đánh ngựa, cả bốn chữ chỉ vật, thể quí hiềm) cùng sách Đỗng Phụng Hạnh Lâm董 奉 杏 林 (Rừng hạnh của Đỗng Phụng, xem Thần Tiên truyện,Q. 6, trang 248-256) trở thành giai thoại trong lịch sử y dược của Trung quốc.

Quất tỉnh vốn nghĩa là cây quýt và giếng nước, tượng trưng cho truyền tích Tô Tiên công, chỉ cho mẹ cách trị bệnh dịch cho dân trong vùng, xem truyện tích đã đẫn.)

Theo tư liệu, cố sự về Tô công được quảng bá vào sau thời Hán, song ban đầu không có liên hệ đến khái niệm quất tỉnh. Trong thời Đường, năm 741, niên hiệu Khai  Nguyên開 元 thứ 29, có Sâm châu 郴 州thứ sử là Tôn Hội孫會, theo lịnh Đường Huyền tông quảng bá chuyện Tô tiên, đã soạn Tô Tiên Bi Minh蘇 仙 碑 銘, (Bài minh (văn bia) trên bia nơi một Tô Tiên) trong đó xuất hiện hai chữ quất tỉnh橘 井. Sau đó Đỗ Phủ杜 甫  có ba bài thơ đều viết về quất tỉnh. Về sau có văn học gia là Nguyên Kết元 結, vào năm 767 khi qua Sâm châu, chuyên môn tìm hiểu về Tô Đam tỉnh (Giếng nước của Tô Đam), soạn bài thơ thất luật Quất tỉnh橘 井, từ đó danh từ quất tỉnh được phổ biến rộng rãi, trở thành một điển cố trong văn học.

Tỉ như :

Tần Quan秦 觀 thời Bắc Tống có câu : « 聞 道 九 種 陰 功 杏 林 橘 井Văn đạo cửu chủng âm công, Hạnh lâm quất tỉnh » (Nghe nói chín loại âm đức, (trong đó có) quất tỉnh, hạnh lâm)

Thừa tướng Chu Tất Đại 周 必 大thời Nam Tống có câu : « 子到 同 吟 仙 井 橘»Tử đáo đồng ngâm tiên tỉnh quất“ (Ta đến đó cùng ngâm vịnh về Tô tiên, quất tỉnh) 

Vương Đô Trung王 都 中 thời Nguyên có câu : » 蘇 仙 孝 感 動 鄉 閭 橘 井 千 年 事 若 符 »Tô tiên hiếu cảm động hương lư, quất tỉnh thiên niên sự nhược phù“ (Lòng hiếu của Tô Tiên công cảm động người đồng hương,bngàn năm quất tỉnh việc ấy vẫn còn là phép trị bệnh)

Vương Thế Trinh 王 世 貞thời Minh có câu: “橘 井汲 後 錄  Quất tỉnh hấp hậu lục »(Quất tỉnh truyền tích sau)

Lý Thời Trân thời Minh có câu : « 橘 井 泉 里 龍 問 病Quất tỉnh tuyền lý long vấn bệnh » .

Tiểu thuyết gia Bồ Tùng Linh蒲 松 齡 thời Thanh không những có truyện trong Liêu Trai Chí Dị聊 齋 志 異 chép về Tô tiên công mà còn có thơ : «蘇 仙 故 井 猶 存 所 Tô Tiên cố tỉnh do tồn sở »(Giếng cũ Tô Đam còn nơi nào?)

Lâm Tác Từ thời Thanh có câu : «橘 井 活 人真 壽 客 Quất tỉnh hoạt nhân chân thọ khách » (Quất tỉnh cứu người là khách thọ chân chính) 

Đời Thanh lại ghép từ quất tỉnh với chữ tuyền泉 và hương香  thành một khái niệm mới, như triều Thanh có Hàn Lâm viện Biên tu Trương Cửu Đàm張 九 鐔, trong bài 郴 州 四 首Sâm châu tứ thủ, câu thứ nhất: „漢 朝 靈 橘 井泉 香Hán triều linh quất tỉnh tuyền hương“. Về sau y giới dùng từ „quất tỉnh tuyền hương“ trong lãnh vực của mình.

Do chỗ truyền thuyết Tô Đam quất tỉnh được lưu truyền rông rãi trong nhân gian nên trong nước có nhiều nơi xuất hiện địa danh quất tỉnh, trừ gốc từ Hồ Nam ra, cón thấy có ở Quảng tây, Quảng đông, Hồ bắc, Tứ Xuyên, Giang tây…ví dụ như trong phố thương mại Hà nam có địa danh Bắc quất tỉnh, dẫn đến tranh luận có phải Tô Đam là người trong phố Hà nam hay không.

Trong lãnh vực y dược, Tô Đam được truyền bá và có ảnh hưởng ngay hải ngoại…  

2.    Về một số địa danh:

a.  Sâm và Sâm huyện:

Chữ 郴này có âm là Sâm, Thiểu Chửu ghi âm Xâm:

·        Trong Khang Hi Tự Điển, bộ phụ, trang 1422 ghi:

唐 韻 丑 林 切 集 韻 韻 會 癡 林切 正韻 丑 森切 並 音 琛

桂 陽 縣 名 一統 志 漢 置 桂 陽 縣 隋 置 郴 州 史 記 鯨 布 傳 項 羽 使 九 江 王 布 等 繫  義 帝 追 殺 之郴 縣

Đường vận: Sửu lâm thiết. Tập vận, Vận hội: Si lâm thiết. Chính vận: Sửu sâm thiết. Tịnh âm sâm. Quế dương huyện danh. Nhất thống chí: Hán trí Quế dương huyện. Tùy trí Sâm châu. Sử ký, <Kình Bố truyện>: Hạng Vũ sử Cửu giang vương Bố đẵng kích Nghĩa đế, truy sát chi Sâm huyện… 

Sách Đường Vận: Đọc ghép hai chữ sữu và lâm. Sách Tập Vận, Vân Hội: Đọc ghép hai chữ Si và lâm. Sách Chính Vận: Đọc ghép hai chữ Sữu và sâm. Đều có âm là sâm. Sâm là tên một huyện ở Quế dương. Sách Nhất Thông chí ghi là huyện Quế dương do nhà Hán lập ra. Nhà Tùy đổi làm châu (Sâm châu). Sử Ký, truyện Kình Bố chép: Hạng Vũ sai Cửu giang vương là Bố cùng đồng bọn đánh vua Nghĩa đế, đuổi và giết Nghĩa đế ở huyện Sâm.

[XT

Về truyện Kình Bố (Anh) , trong Sử Ký,<Kình Bố Liệt Truyện>, Quyển cửu thập nhất, đệ tam thập nhất, chép:

漢 云 年 四 月諸 候 皆 罷 戲 下各 就 國 項 氏 立 懷 王為 義 帝 徒 都 長 沙 迺 陰 令 九 江 王 布 等 行 擊 之 其 八 月 布 使 將 擊 義 帝 追 殺 之郴 縣

  正義

   郴 丑 林 反

   今 郴 州 有 義 帝  冢 及 祠 

… Hán nguyên niên tứ nguyệt, chư hầu giai giải hí hạ, các tựu quốc. Hạng thi lập Hoai vương vi Nghĩa đế, đồ đô Trường sa, nãi âm lịnh Cửu giang vương Bố đẵng hành thích chi. Ký bát nguyệt, Bố sử tướng kích Ngĩa đế, truy sát chi Sâm huyện.

Chính Nghĩa: Sâm, Sửu lâm thiết. Kim sâm châu hữu Nghĩa đế trũng cập từ.

Hán nguyên niên (năm 206 trước TL, vào tháng 2 năm này, Hạng Vũ phong Lưu Bang làm Hán vương, Tư Mã Thiên là sử gia của Hán triều, nên xem khởi điểm nhà Hán là từ đây. Theo Sử Ký chú dịch, tam, trang 2028) vào tháng tư, các chư hầu đều bãi binh rời doanh trại Hạng Vũ để về các phong quốc của mình. Hạng Vũ cho lập Hoài vương (tức Sở Hoài vương) làm Nghĩa đế, khiến dời đô về Trường sa. Lại ngầm ra lệnh cho Cửu giang vương là Anh Bố cùng đồng bọn đánh giết Nghĩa đế trên đường đi. Năm đó vào tháng 8, Anh Bố cho bộ tướng đuổi theo, đánh giết Nghĩa đế ở Sâm huyện…

Chính Nghĩa: Sâm đọc phiên thiết hai chữ Sử và lâm. Nay ở Sâm châu có mộ và đền thờ vua Nghĩa đế…

(Xem thêm Sử Ký, Truyện về Kình Anh Bố, Quyển số đã dẫn)

 

Sâm huyện cũng như Tiện huyện đều thuộc quận Quế dương. Quận lỵ Quế dương ở tại huyện Sâm, như có ghi ở trên.

·        Từ Hải (ĐL), Q. hạ, trang 2891

色 音 切 音 琛 侵 韻

Sắc âm thiết, âm sâm, xâm vận.

Địa danh và họ Sâm

Liên hệ đến địa danh Sâm, có ba khái niệm:

Sâm châu

Sâm thủy

Sâm huyện.

Đời Lương thời Nam triều đặt quận Sâm châu ở quận Quế dương. Đời Đường đổi thành Quế dương quận.…….

·        Thủy Kinh chú

 郴 舊 縣 也 桂 陽 郡 治 也 地 理 志 曰 桂 水 所 出 因 以 名也

桂 陽 烈 仙 傳 云 耽 郴 縣 人

Cựu huyện dã, Quế dương, quận trị dã… Địa lý chí viết: „Quế thủy sở xuất, nhân dĩ danh dã… Đam, Sâm huyện nhân…“ (Thủy Kinh Chú, trang 568)

Huyện Sâm là một huyện ngày xưa. Nơi đặt làm quận lỵ (trị sở) của Quế dương quận. Ở sách Hán thư,<Địa lý chí> nói do sông Quế xuất phát từ đây, nên có tên gọi là vậy.

Sách „Quế dương Liệt Tiên truyện“ nói: Đam là người huyện Sâm… 

Theo Từ Nguyên (BK), Q. hạ, trang 3113, thì Sâm châu 郴 州là đất của nước Sở 楚 thời Xuân Thu春秋. Đời Tần 秦 đặt làm huyện, thuộc quận Trường sa 長 沙. Cuối đời Tần, Hạng Vũ 項 羽đã cho đày Nghĩa đế 義 帝đến ở Sâm郴, tức chỗ này.      

Thời Hán 漢đặt làm quận Quế dương 桂 陽 郡, thuộc đất Kinh châu荊 州. Thời Tùy 隋, Đường 唐đều đặt là Sâm châu郴 州. Thời Tấn 晉 (Ngũ đại 五 代), đầu niên hiệu Thiên Phước 天  福 đổi làm Đôn châu敦 州, không lâu lại giữ tên cũ. Thời Tống 宋vẫn giữ Sâm châu như trước, Thời Nguyên元 đặt thành lộ路, đầu đời Minh đổi làm phủ府, niên hiệu Hồng Vũ 洪 武thứ 9 hạ xuống thành châu, sau lại bỏ. Đời Thanh 清lại đặt là Trực lệ châu直 隸 州, thuộc Hồ Nam 湖 南. Năm 1913 đổi thành huyện, thuộc tỉnh Hồ Nam 湖 南 .

Do huyện Sâm thuộc Hồ Nam nên Từ Nguyên (BK) đã ghi Tô Đam là  người Hồ Nam như có dẫn ghi trên.

Trong Thủy Kinh Chú sớ, Q. hạ, trang 3214 cũng ghi tương tự:

        郴 舊 縣 也

守 敬 按 史 記 項 羽 本紀 羽 徒義 帝長沙 郴 縣 則 縣 秦 置 為桂 陽 郡 治後 漢 吳 晉 宋 齊梁 因 今 郴 洲 治

        Sâm, cựu huyện dã,

Thủ Kính án: „Sử Ký,<Hạng Vũ Bản Kỷ“: Vũ đồ Nghĩa đế Trường sa Sâm huyện, tắc huyện Tần trí. Vi Quế dương quận trị, Hậu Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương nhân. Kim Sâm châu trị.

 Sâm là tên một huyện cũ, ngày xưa.

Thủ Kính xét: Trong Sử Ký,<Hạng Vũ Bản Kỷ> ghi: „Vũ cho đày vua Nghĩa đế đến huyện Sâm thuộc Trường sa, ắt là huyện (vốn) do đời Tần lập. Sâm huyện được đặt làm trị sở của Quận Quế dương. Các đời sau như Hậu hán, Ngô, Tấn, Tề, Lương cũng theo như thế. Nay là trị sở của Sâm câu..

 b.      Về Tiện huyện

~ Tiện huyện 便 縣: Theo Trung Quốc Cổ Kim Địa Danh Đại Từ Điển, trang 576:

便 縣 漢 置 南 朝 宋 省 陳 復 直 隋 又 省 故 城 卽 今 湖 南 永 興 縣 治

Tiện huyện: Hán trí. Nam triều Tống tỉnh. Trần phục trí. Tùy hựu tỉnh. Cố thành tức kim Hồ nam Vĩnh hưng huyện trị.

Tiện huyện được nhà Hán lập ra, đời Tống thời Nam triều đặt thành tỉnh. Đời Trần lại đổi thành huyện. Thời Tùy lại đặt thành tỉnh. Thành cũ của huyện nay thuộc trị sở của huyện Vĩnh Hưng tỉnh Hồ nam. 

~ Tiện huyện trong Thủy Kinh Chú sớ (Q. hạ, trang 3216):

又 北 過 便 縣 之 西 .守 敬 按 漢 縣 數 桂 陽 郡 後 漢吳 晉 因 宋 省 今 永 興 治

縣 故 惠 帝 封 長 沙 王 子吳 淺 為 候 國, 全云 按 漢 表以 為 江 夏 之 編 索 隱 曰 縣 屬 桂 陽 當 從 道 元 為 是 淺 以 惠 帝 元 年 封 .王 莽 之 便 屏 也. 縣 界 有 溫 泉 水, 在 郴 縣 之 西 北, 會貞 按 宋 本寰 宇 記 溫 泉 出郴 北 留 罔 …

… Hựu bắc quá Tiện huyện chi tây. Thủ Kính án: „Hán huyện thuộc Quế dương quận, Hậu Hán, Ngô, Tấn nhân, Tống tỉnh. Kim Vĩnh hưng huyện trị.“

Huyện cố Huệ đế phong Trường sa vương Ngô Thiển vi hầu quốc, Toàn vân, án: „Hán biểu“ dĩ vi Giang hạ chi biên. “Sách Ẩn“ viết, huyện thuộc Quế dương. Đương tòng Đạo Nguyên vi thị, Thiển dĩ Huệ đế nguyên niên phong. Vương Mãng chi Tiện bình dã. Huyện giới hữu ôn tuyền thủy, tại Sâm huyện chi tây bắc. Hội Trinh án: „Tống bản „Hoàn Vũ ký“ Ôn tuyền xuất Sâm huyện bắc. Võng. 

(…Sông Lỗi) lại phía bắc chảy vào phía tây của Tiện huyện. Thủy Kính xét: Thời Hán Tiện huyện thuộc Quế dương quận. Thời Hậu Hán, sang Ngô, Tấn đều theo như vậy. Đời Tống bỏ. Tiện huyện nay thuộc tri sở của Vĩnh hưng. Huyện Tiện vốn xưa kia là đất vua Hán Huệ đế phong cho con của Trường sa vương Ngô Tiễn làm đất chư hầu. Toàn nói rằng, theo Hán biểu cho chép vào đất Giang hạ. Sách Ẩn trong Sử Ký nói, huyện thuộc Quế dương, nay theo Li Đạo Nguyên thì là đất ấy. Ngô Thiển được phong vương vào niên hiệu Huệ đế đầu tiên. Vương Mãng dùng đất huyện như phên dậu cho Hán triều. Giáp huyện có suối nước nóng. Suối ở phía tây bắc của huyện Sâm, Hội Trinh xét: Hoàn Vũ ký bản đời Tống ghi: Suối nước nóng từ phía bắc của huyện Sâm. Ghi của Li Đạo Nguyên (về vị trí) sai! 

Quế dương nhân: Người Quế dương. 

2.      Các từ ngữ khác:

a.      Món cá: Món cá trong các sách Thái Bình Quảng Ký và Thần Tiên truyện ghi 鮓. Chữ này được giải thích trong:

~ Khang Hi Tự Điển (Trang 1641):

廣 韻 集 韻 韻 會正會 從 側 下 切 與 鯗 同 藏 魚 也 釋 名 鮓 滓 也 以 鹽 米 釀 之 如 葅 ,熟 而 食 之 也

又 集 韻 助 駕 切 音 乍 海 魚 名 或 作 蚱 博 物 志 東 海 有物 狀 如 凝 血 從 廣 方 員 名 曰 鮓 魚 無 頭 目 處 所 内 無 藏 衆蝦 附 之 隨 其東西 人煮 食之

Quảng vận, Tập vận, Vận hội, Chính hội:  Tòng trắc hạ thiết. Dữ tưởng đồng. Tàng ngư dã.

Thích danh: Trả chỉ dã. Dĩ diêm mể nhưỡng chi như trư nhiệt nhi thực chi dã.

Hựu Tập Vận: Trợ gia thiết, âm sa. Hải ngư danh, hoặc tác trách. Bác Vật chí: „Đông hải hữu vật trạng như ngưng huyết tòng quảng phương viên danh viết trá ngư, vô đầu mục xứ sở, nội vô tàng chúng hà phụ chi tùy kỳ đông tây, nhân chữ thực chi.

Sách Quảng vận, Tập vận, Vận hội, Chính vận ghi: „Theo cách đọc ghép hai chữ trắc và hạ.“ Cùng nghĩa với chữ tưởng (loai cá phơi nắng, khô). Loại cá để dành ăn dần.

Sách Thích danh: Đọc phiên thiết hai chữ trả và chỉ. Dùng muối và bột ướp cho cá lên men, như loại cá (dưa) muối, nấu lên để ăn.

Lại sách Tập vận ghi:  Đọc ghép hai chữ trợ và giá, âm tra, một loại cá biển. Hoặc viết dạng khác蚱, chỉ loại hải sản. Trương Hoa thời Tấn trong sách Bác vật chí, tam, nói: Ở vùng biển đông có một giống hải sản kiểu như máu đông, rộng lớn cở chừng trên bốn tấc, có hình hơi vuông tròn, gọi đó là trá ngư (sứa), không đầu, mắt, (ruột) trống trơn, các loại tôm cùng sống trong khu vực của sứa biển. Tùy vào vùng đông hay tây mà người Việt nấu sứa biển để ăn 

~Từ Nguyên (BK), Q. hạ, trang 3509 :

+ 鮓 :側 下 切 ,上 ,馬 韻, 莊 Trắc hạ thiết, thượng, mã vận, trang

Âm đọc ghép (phiên thiết) hai chữ  Trắc và hạ, thượng thanh (dấu nặng), có vần của chữ mã, âm khởi đầu tr

 

經 加 工 製 作 便 於 貯 藏 的 魚 食 品, 如 醃 魚 ,糟 魚 之 類. 釋 名 釋 飲 食 : „鮓 菹 也 .以 鹽 米 釀 魚 以 為 菹 熟 而 食 之也

宋 .蘓 軾 ,仇 池 筆 記 : „江 南 人 好 作 盤 遊 飯 鮓 脯 瞺 灸 無 有 不 埋 在 飯 中 „ (類 說 十) 

Zhă

Trắc hạ thiết, thượng, mã vận, trang

Kinh gia công chế tác tiện ư trữ tàng đích ngư thực phẩm, như yêm ngư, tao ngư chi loại. Thích danh,<Thích ẩm thực> : « Trả, trư dã, dĩ diêm mễ nhưỡng ngư dĩ vi trư, nhu nhi thực chi dã ». Tống. Tô Thức,<Cừu Trì Bút Ký> : « Giang nam nhân hảo tác bàng du phạn, trả bô quái chích, vô hữu bất mai tại phạn trung » (Loại thuyết. Thập)

Yêm ngư : Cá muối,

Tao ngư (cá ướp hoặc ngâm bằng rượu

Dịch :

[a].

Trã là loại thức ăn bằng cá được chế biến qua các công đoạn như các loại cá ướp bằng muối (yêm, hoặc thính) hay bằng cặn rượu. Sách Thích danh trong Thích Ẩm thực ghi: „Trã, Loại như dưa muối, dùng muối, bột để gây men rục cá, để làm mắm, nấu lên để ăn .“

Tô Thức thời Tống trong Cừu Trì Bút Ký ghi: „Người dân vùng Giang nam thường thích tổ chức ăn dã ngoại, dùng cá muối, thịt khô, nem thịt, thịt nướng (nướng lên để ăn) mà không phải chôn dấu gì (đồ thừa, rác rưới) trong bửa ăn“ (Loại thuyết. Mười)

 

  + Zhà

集 韻: 助 駕 切 ,去, 禡 韻

海 蜇: 水 母 之 一 種 .晉 張 華 博 物 志 三 東 海 有 狀 如 凝 血 從 廣 數 尺 方 圓 名 曰 鮓 魚 無 頭 目 處 所 内 無 腹 藏 其 所 處 衆 蝦 附 之 隨 其 東 西 越 人 煮 食 之 參 見 海 蜇 (triết: con sứa)

Trợ giá thiết, khứ, má vận

Hải triết: Thủy mẫu chi nhất chủng. Tấn.Trương Hoa, Bác Vật chí, tam:“ Đông hải hữu vật, trạng như ngưng huyết tòng quảng sổ xích, phương viên, danh viết trá ngư. Vô đầu mục xứ sở, nội vô phúc tàng, kỳ sở xứ chúng hà phụ chi, tùy kỳ đông tây, Việt nhân chữ thực chi.“

(Tham kiến Hải triết)

Dịch:

Sách Tập vận: Đọc ghép hai chữ trợ và giá àtrá, vần của chữ má

Là hải triết, tức sứa biển.Chữ trã đây chỉ một loại vật sống ở biển thuộc họ sứa. Trương Hoa thời Tấn trong sách Bác vật chí, tam, nói: Ở vùng biển đông có một giống hải sản kiểu như máu đông, rộng lớn cở chừng trên bốn tấc, có hình hơi vuông tròn, gọi đó là trá ngư (sứa), không đầu, mắt, ruột trống trơn, các loại tôm cùng sống trong khu vực của sức biển. Tùy vào vùng đông hay tây mà người Việt nấu sứa biển để ăn…

 

[XT:

Đối chiếu trích dẫn ở Khang Hi Tự Điển và Từ Nguyên (BK), từ sách Bác Vật Chí của Trương Hoa thời Tấn, thì Khang Hi Tự Điển dẫn thiếu:

Khang Hi Tư Điển, trang 1641 cùng dẫn sách bác Vật chí của Trương Hoa, tuy nhiên trong câu: … Tòng quảng phương viên

… Nội vô tàng…

Từ Nguyên (BK): (trang 3509)…Tòng quảng sổ xích phương viên

    …Nội vô phúc tàng

      Xem vậy, Khang Hi Tự Điển dẫn thiếu! 

~ Thiều Chửu trong Hán Viêt Tự Điển trang 793 ghi: Chả: Cá hộp (Cá muối đóng hộp để dành ăn dần gọi là chả) chữ chả này đọc từ chữ trã (?) 

~ Tạ Thanh Vân trong Thần Tiên Truyện (Trang 358) giải thích:

鮓

一 種 用 鹽 和 紅曲 腌  的 魚 可用 來 拌 飯 吃

    Zhă

Nhất chủng dụng diêm hòa hồng khúc yêm đích ngư, khả dụng lai bạn phạn.

Một loại cá ướp muối và men bột gạo đỏ có thể dùng (trộn, cắt) trong bữa ăn.

[XT:

Chữ khúc 曲trong hồng khúc 紅曲 , có thể là một dạng khác của chữ 麯. Chữ khúc 麯 cũng được viết 麹 , nghĩa tương tự, chỉ men rượu (Xem Từ Nguyên (BK), Q. hạ, trang  3563). Ở đây chữ hồng khúc (giải thích của Tạ Thanh Vân) thiển nghĩ, chỉ là một loại bột màu hồng hay đỏ sậm, dùng với rượu cho lên men để ướp cá)

Hồng khúc: Xem

Từ Hải (ĐL), Q. hạ, trang 2224,

Từ Nguyên (BK), Q. hạ, trang 2397 

Thiển nghĩ, món cá này có phần tương tự như hai oại cá má người miền Trung thương dùng:

-Món cá chuồn thính: Bột thính cá là bột bắp, có ướp muối, khi ăn có thể hấp lên hay chiên.

-Món cá mòi: Loại cá mòi ướp mắm uốn, cá tiết chất mỡ, béo. Có thể ăn khi chiên hay nấu. cá mòi loại cá hơi dẹp mỏng, thân cá lớn cở chừng ba ngón tay (3 cm trở lên)

-Hoặc có thể tương tự một số mắm cá (trừ cá cơm) của người miền Tây nam bộ như mắm cá sặc… chẳng hạn. Món cá sặc có công đoạn và nguyên liệu tương tự như món cá trã nói ở trên.

Đây chỉ là phỏng đoán của người viết! 

b.      Về chữ lí 里trong Lí trung:

Lí được dịch là làng.

Theo Từ Nguyên (BK), Q. hạ, trang 3146: Dẫn

詩 鄭 風 將 仲 子 將 仲 子兮 五 踰 我 里

傳 里 居 也 二 十 五 家 為 里

周 禮 地 官 遂 人 五 家 為 鄰 五 鄰 為 里

後 里 所 居 家 數 不 一  時 有 變 更

Thi,<Trịnh phong. Thương trọng tử> :

« Thương trọng tử hề, vô dũ ngã lí ».

….

Truyện : « Lí, cư dã. Nhị thập ngũ gia vi lí »

Châu lễ <Địa quan. Toại nhân> : « Ngũ gia vi lân, ngũ lân vi lí »

Hậu lí sở cư gia bất nhất, thời hữu biến cánh…

Kinh Thi, <Trịnh phong. Thương trọng tử>:

„Xin chàng trai kia ơi, đừng bước qua chỗ ta ở”

Truyện giải thích: “lí, là nơi ở.  Hai mươi lăm nhà làm thành một làng (lí)”

Kinh lễ,<Địa quan. Toại nhân> : « Năm nhà làm thành một lân, năm lân làm thành một lí » 

[XT:

Về chữ 將 ở đây đọc âm thương

-Theo  Mao Thi Chính Nghĩa, trang 160:

將 七 羊 反

Thương: Thất dương phiên

(Tương/Thương) đọc phiên thiết từ hai chữ thất và dương (à thương)

- theo Từ Nguyên (BK), Q. thượng, trang 874, giải thích thứ 3:

qiang. 集 韻 千 羊 切 平 陽 韻

           願 請

            詩 .<衞 風>: 將子無 怒 , 秋 以 為 期

Tập vận: Thiên dương thiết, bình, dương vận

Thi, <Vệ phong>: “Thương tử vô nộ, thu dĩ vi kỳ”

Sách Tập vận ghi: Đọc phiên thiết hai chữ Thiên và dương, bình thanh, âm dương.

 Mong muốn, cầu xin (thỉnh nguyện)

Kinh Thi,<Vệ phong>: “Xin chàng đừng giận,

Hẹn lúc thu về” 

Dịch nghĩa thông thường theo văn tự. Ý nói, người nữ yêu cầu người trai đừng có qua chỗ ở của mình (ở đây là lí, tức khu làng xóm của người nữ), nhằm tránh không muốn bị dụ dỗ, gặp rắc rối với gia đình…

Bài Thương trọng tử gồm ba chương, mỗi chương gồm 8 câu, dài ngắn có khác. Đại khái nội dung như sau:

Chương 1, vì sợ uy cha mẹ nên không muốn liên hệ với chàng trai; chương 2, ngại quyền uy anh em trong nhà; chương 3, sợ người hàng xóm dị nghị …

Đơn giản đây chỉ là một bài ca dao nói về qua hệ nam nữ, qua đó người nữ đã khéo léo nêu các lý do để từ chối gặp chàng trai.      

Tuy nhiên trong các tiên箋, sớ 疏đều giải thích cái ý nghĩa uyên thâm hơn, liên hệ với sự kiện lịch sử bấy giờ, quanh Trịnh Trang công, Thúc Đoạn, Sái (Thái) Trọng… 

[XT: Về Trịnh phong. < Thương trọng tử>, xem thên:

Phần ghi chép cùng lý giải  trong 

 Thi Kinh Trực Giải, Q. thượng, từ trang trang 237 đến trang 244.

Mao Thi Chính Nghĩa, Q. tứ, nhị, Trịnh phong, từ trang 160 đến 161

Tứ Thư Ngũ Kinh, Chu Hi chú, Trịnh phong,  trang 519

 

Giải thích thêm về từ lí 里

Trong Lễ Ký, (Châu lễ) <Địa quan. Toại nhân> ghi:

           禮 記 周 禮 地官 司 徒 第 二

遂 人 :掌 邦 之 野. 以 土 地 之圖 經 田 野, 造 縣 鄙 形 體 之法 .五 家 為 鄰 ,五 鄰 為 里 ,四 里 為 酇, 五 酇 為 縣, 五 縣 為 遂 ,皆 有 地 域 溝 樹 之 …

Toại nhân: Chưởng bang chi dã. Dĩ thổ địa chi đồ kinh điền dã, tạo huyện bỉ hình thể chi pháp.

Ngũ gia vi lân, ngũ lân vi lí, tứ lí vi toản, ngũ toản vi bỉ, ngủ bỉ vi huyện, ngũ huyện vi toại, giai hữu địa vực, cẫu thụ chi …

 

Châu Lễ <Địa quan (Quan quản lý về đất đai). Chức Toại nhân>:

Chức Toại nhân, quản lý về ruộng đồng của nhà nước, lập qui dịnh về hình thể của ấp, huyện. Cứ 5 nhà dân làm thành một lân (hàng xóm), 5 lân làm thành một lí (làng dân, như vậy gồm 25 nhà), 4 làng làm thành một ấp, 5 ấp làm thành một huyện, 5 huyện làm thành một toại (ngoại ô), đều có khu vực đất đai (rõ ràng), làm mương rãnh, trồng cây cối ở đó…

(Địa quan trong chương này ghi những qui định, hướng dẫn cụ thể về chức năng, sự điều hành, trách nhiệm trong các quan hệ lân, lý, bỉ, huyện toại…)

Xem thêm

Lễ Ký Giảng Chú, Dương Thiên Vũ soạn, Nhạc Lộc Thư xã Xb, Q. thượng, Châu Lễ, từ trang 41.) 

c.      Về quế trúc:

Sau đây là một số ghi chép, giải thích về quế trúc

~Tạ Thanh Vân trong Thần Tiên Truyện, trang 362 giải thích:

桂 竹 :亦 稱 斑 竹, 五月竹 ,麥 黃 竹, 小 麥 竹,因 在 麥 黃 成 竹 ,時 故 有 此 名 .“宣 統 湖 北 通 志“ :  桂 竹 作 圭 竹 , 謂 之貴 竹 . 南 朝 宋 戴 凱 之“竹 譜 “ 作 桂 竹, 謂 高 四 五 丈, 大 二 尺 園 , 狀 如 甘 竹 而 皮 赤.

Quế trúc diệc xưng ban trúc, ngũ nguyệt trúc, mạch hoàng trúc, tiểu mạch trúc, nhân tại mạch hoàng thành trúc, thời cố hữu thử danh. Tuyên Thống Hồ Bắc Thông chí: “Quế trúc tác khuê vị chi quí trúc. Nam triều, Tống. Đái Khải Chi „Trúc phổ“ tác quế trúc, vị cao tứ ngũ trượng, đại nhị xích viên, trạng như cam xích nhi bì xích. 

Dịch:

Quế trúc còn được gọi là ban trúc, ngũ nguyệt trúc, mạch hoàng trúc, tiểu mạch trú, vì phát tiển  vào lúc mạch hoàng thủy triều (khoảng tháng 4, 5 nông lịch) nên có tên. Sách Tuyên Thống Hồ Bắc Thông Chí viết: „Quế trúc được dùng làm dụng cụ để đo, cân thóc nên gọi là quí trúc“.

Đái Khải Chi thời Nam triều, Tống, trong sách Trúc Phổ ghi: „Quế trúc cao chừng bốn đến năm thước, thân tròn chừng hai tấc, tượng như cam trúc song vỏ màu đỏ“.

       Vào thời Tống (Nam triều):

Một xích (Nam triều): 30,72 Cm

                 Một trượng = 10 xích = 307,2 cm = 3,072 m      

 Về  Ban trúc:

         Dẫn Từ Nguyên (BK) Q. thượng, trang 1366:

                 斑 竹

斑 竹 紫 竹 竹 身 有 紫 色 或 灰褐 色的斑 文也湘 妃 竹 古代神 話 謂 舜 南 巡 不返 葬 於  蒼 梧 舜 娥 皇女英思 帝 不 已淚 下 沾 竹 竹悉 成斑

見舊 題 南 朝梁 任 昉 述 異 記

唐韓 愈昌 黎 集 二 送 惠師 詩 斑 竹 啼 舜 婦 清 湘 沈 楚 臣

又 齊 己 白 蓮 集 八 江 上夏 日 詩 故 園 舊 寺 臨 湘水斑 竹 煙 深 越 鳥 啼

Ban trúc: Tử trúc. Trúc thân hữu tử sắc hoặc hôi hạt sắc đích ban văn, dã xưng Tương phi trúc. Cổ đại thần thoại vị Thuấn nam tuần bất phản, táng ư Thương Ngô, Thuấn phi Nga Hoàng, Nữ Anh tư đế bất dĩ, lệ hạ triêm trúc, trúc tất thành ban.

Kiến cựu đề Nam triều. Lương Nhậm Phưởng, Thuật Dị Ký.

Đường Hàn Dũ, Xương Lê tập, nhị, Tống Huệ sư thi:

„Ban trúc đề Thuấn phụ, Thanh Tương trầm Sở thần“.

Hựu Tề Ký, Bạch liên tập, bát, Giang thượng hạ nhật thi: „Cố viên cựu tự lâm Tương thủy, Ban trúc yên thâm Việt điểu đề“ 

Ban trúc: (còn gọi) là tử trúc (trúc tím). Thân trúc có đốm, vân tím hoặc tro nên có tên gọi như thế. Trúc còn được gọi lá ban Tương phi trúc. Thần thoại thời cổ đại nói, khi vua Thuấn đi tuần thú phía nam, (chết) không trở về, chôn cất ở đất Thương Ngô. Hai nàng phi (vợ vua Thuấn) là Nga Hoàng và Nữ Anh nhớ vua khôn xiết, nước mắt hai nàng rơi thấm vào cây trúc ởso6ng Tương, khiên thân trúc có đốm, vân.

Xem: sách cũ thời Nam Triều, Thuật Di Ký của Lương NHậm Phưởng.

Hà Dũ đời Đường trong Xương Lê tập, nhị, Tống Huệ sư thi: „ Ban trúc ghi tên vợ của vua Thuấn, Thanh Tương trầm mình tôi nước Sở“

Lại có thơ của Tề Ký trong Bạch Liên tập, bát, bài Giang thượng hạ nhật, “ Vườn cũ chùa xưa đến Tương thủy, Ban trúc khói mù chim Việt kêu“ 

Dù quế trúc còn có tên là ban trúc, nhưng ban trúc gắn liền với sự tích Nga Hoàng và Nữ Anh nên trở thành điẽn cố thường được nhắc đến trong văn học, đặc biệt là trong thi ca Trung quốc. 

 

~ Sơn Hải Kinh, Trung Sơn kinh đệ ngũ, Vân sơn trang tứ cửu (?), bản ản ấn ghi nguyên văn như sau:

…

    又 東 南 五 十 里  曰 雲 山

懿 行 按劉 陸注 吳都 賦 云梢 雲 山 名出竹疑 梢 雲 卽 雲 山 也

無 草 木 有 桂 竹 甚 毒 傷 人必 死

今 始 興 郡 桂 陽 縣 出

(chữ này gồm bộ trúc và chữ khuê:…竹+圭, không rõ. Xem giải thích tiếp theo) 

竹 大者園二尺長 四 丈又 交 趾 有 篥 竹 實 中勁 強 有毒 銳以 刺 虎 中之則死. 亦 此類也 懿 行按始 興 郡 桂 陽 見晉 書 理 志 吳 都 賦注 引異 物 志 曰 桂 竹 生 於 始 興 小桂 縣 大者 園三尺長四五丈 又 云篻竹 大如 戟 矝 實 中勁 強 叫趾 人銳 以 為矛 甚 利 簩 竹 有毒 夷 人以 為 觚 刺 獸 中之 必死 並與 郭 注 合 又 郭 注篥 疑 當 為 篥 當為 桂

 

„… Hựu đông nam ngũ thập lí viết Vân sơn.

Ý Hành án: „Lưu Lục chú Ngô đô phú vân: Sao Vân sơn danh xuất trúc nghi Sao vân tức Vân sơn dã“

Vô thảo mộc hữu quế trúc thậm độc thương nhân tất tử.

Kim Thủy hưng quận Quế dương huyện xuất …(a?)

Chữ này không rõ, nguyên bản ghi gồm hai chữ: bộ trúc竹 ở trên và chữ khuê 圭 ở dưới.

Chữ này có thể là chữ quế 桂trong quế trúc 桂 竹 khắc sai.

Trúc, đại giả viên nhị xích, trường tứ xích. Hựu Giao chỉ hữu li 篥trúc, thực trung kính cường, hữu độc, duệ  dĩ thích hỗ, trúng chi tắc tử, diệc thử loại dã.

Ý Hành án: Thủy hưng, quận Quế dương kiến Tấn Thư,<Địa lý chí>, Ngô đô phú chú dẫn Dị Vật chí viết: “Quế trúc sinh ư Thủy hưng, Tiểu quế huyện, đại giả viên tam xích, trường tứ ngũ trượng; hựu vân phiêu 篻trúc đại như kích căng thực trung kính cường. Giao chỉ nhân duệ dĩ vi mâu, thậm lợi. Lao trúc hữu độc, di nhân dĩ vi cô, thích thú, trúng chi tắc tất tử. Tịnh dữ Quách chú hợp. Hựu Quách chú: Lật nghi đáng vi phiêu (a?) đáng vi quế

Dịch:

Lại về phía đông nam chừng 50 dặm có núi Vân sơn

Ý Hành xét: Lưu Lục khi chú Ngô đô phú của Tả Tư (chép trong Văn Tuyển) nói tên núi Sao Vân do có trúc mà có tên, nên ngờ rằng Sao vân tức là núi Vân sơn vậy.

(Núi) không có cây cỏ gì (lạ), có loại quế trúc rất độc, người bị thương phạm (do quế trúc), ắt bị chết.

Nay ở quận Thủy hưng thuộc huyện Quế dương xuất (a?, quế) trúc, trúc lớn tròn cở hai tấc, dài (cao) bốn thước. 

Người Giao chỉ có loại Li trúc, ruột trúc cứng chắc,  có độc chất, (họ) mài nhọn trúc (dùng) để đâm cọp, cọp bị trúng ắt chết. Đó cũng một loại trúc này.

Ý Hành xét, ở quận Thủy hưng thuộc Quế dương, xem trong sách Tấn thư,<Địa lí chí>, trong bài phú Ngô đô Phú có phần chú, dẫn sách Dị Vật chí nói: Loại quế trúc mọc nơi huyện Tiểu quế thuộc Thủy hưng. Trúc tròn lớn cở ba tấc, cao lớn cở 4 đến 5 thước. Lại nói rằng  phiêu trúc lớn như cây kích, cây giáo, ruột trúc đặc và cứng, ngươi Giao chỉ đẻo nhọn, dùng nó như cái giáo, rất nhọn, bén. Lao trúc cũng độc, người thương dùng nó như mũi giáo nhọn để đâm cọp, cọp trúng ắt chết. (Các điều này) đều giống như Quách Phác chú. Lại xét, Quách Phác chú, viết li ngờ rằng đáng ra là chiêu,  chữ ( a?) đúng ra là chữ quế. 

Sao vân theo Từ Nguyên (BK) Q. thượng, trang 1580 -1581:

Sao vân: cao vân, đoan vân…

Có thuyết nói đó là tên núi. 

~ Văn Tuyển, Q. thượng, q. 5, Ngô đô phú (trong Kinh đô phú hạ, trang 86):

 

其竹 則 篔 簹,箖 箊,竹 箭, 射 筒. 柚 梧 有 篁 篻有叢

皆 竹 名也.異 物 志 曰:篔 簹 生水 邊,長 數丈,園 一 尺 五 六 寸.一 節 相 去六七 尺 或 相 去 一 丈 .廬陵 界 有之 . 始 興 以 南, 又 多 小 桂 ,夷 人 績 以 為布葛 .箖  箊 是 哀公 所 與 越 女 試 ,劒 竹者 也 .桂 竹  生 於 始 興 小 桂 縣 ,大者 園 二 尺長 四五 丈 .箭 竹 細 小而 勁 實 ,可以為箭 ,通 竿,無 節 .江 東 諸 郡 皆有之. 射 筒 竹 ,細 小 通 長,長 丈餘 , 亦 無 節 ,可 以為 射筒 .筒 及 由 梧 竹 皆 出交 趾 九 真. 篻 竹 大 如 戟 矝, 實 中勁 強,交 趾 人銳 以 為矛, 甚 利 .簩 竹 有毒 ,夷 人以 為 觚 ,刺 獸 中之 , 則 必 死

篔 于 君 切 篻 方 眇 切 簩 音 勞

Kỳ trúc tắc vân đương, lâm ư, trúc tiễn, xạ đồng. dữu ngô hữu hoàng, phiêu lao hữu tùng.

              Giai trúc danh dã.

Dị vật chí viết: Vân đương, sinh thủy biên, trường sổ trượng, viên nhất xích ngũ lục thốn, nhất tiết tương khứ lục thất xích, hoặc tương khứ nhất trượng. Lư Lăng giới hữu chi. Thủy hưng dĩ nam hựu đa tiểu quế, di nhân tích dĩ vi bố cát. Lâm hư thị Ai công sở dữ Việt nữ thí, kiếm trúc giả dã. Quế trúc sinh ư Thủy hưng Tiểu quế huyện, đại giả viên nhị xích, trường tứ ngũ trượng. Tiễn trúc tế tiểu nhi kính thực, khả dĩ vi tiễn, thông can vô tiết, Giang đông chư quận giai hữu chi. Xạ đồng trúc tế tiểu thông trường, trường trượng dư, diệc vô tiết, khả dĩ vi xạ đồng. Đồng cập do ngô trúc, giai xuất Giao chỉ Cửu chân. Phiêu trúc đại như kích căng, thực trung kính cường, Giao chỉ nhân duệ dĩ vi mâu, thậm lợi. Lao trúc hữu độc, di nhân dĩ vi cô, thích thú, trúng chi, tắc tất tử.

Vân: Vu quân thiết

Phiêu: Phương miễu thiết

Từ Nguyên (BK), Q. hạ, trang 2371.

Lao: âm lao 

                           Dịch:

…         

Loại trúc ở đây có trúc vân đương, lâm ư, quế, tiễn, xạ đồng, rừng trúc dữu ngô rừng trúc, đám bụi trúc phiêu lao…

(vân đương, lâm ư, quế, tiễn, xạ đồng, dữu ngô, phiêu, lao) đều là các loại trúc.

Sách Dị Vật chí nói : Trúc vân đương mọc  ở ven bờ nước, cao nhiều thước, thân tròn chừng 1, 5 hay 1,6 tấc. Các đốt cách nhau chừng 7 tấc có khi 1 thước. Giữa hai vùng Lư lăng đều có loại trúc này. Ở vùng phía nam của Thủy hưng lại có nhiều loại quế trúc nhỏ, người di (thiểu số) đánh sợi để làm y phục. Trúc Lâm ư là loại kiếm trúc mà Ai công cùng với người nữ nước Việt giao đấu. Quế trúc mọc ở vùng huyện Tiểu quế của Thủy hưng. Thân trúc tròn lớn chừng hai tấc,  cao chừng 4, đến 5 thước. Tiễn trúc, thân nhỏ mà ruột cứng dài, lớn chừng hơn một thước, lại không có đốt,  có thể dùng làm tên bắn. Đốt trúc liền nhau không có mắt, các quận vùng Giang đông đều có loại trúc này. Loại  xạ đồng cùng Ngô trúc đều mọc ở vùng Giao chỉ, Cửu chân. Phiêu trúc lớn cở như cái xà mâu hay giáo. Ruột cứng và đặc, người Giao chỉ mứt nhọn để làm cái xà mâu, rất bén.  Lao trúc độc, người di dùng nó như cái lao, đâm thú, thú bị đâm trúng ắt chết.

Chữ vân, đọc phiên thiết từ chữ vu và quân

Chử phiêu đọc phiên thiết từ chữ phương và miểu

Chữ lao (bộ trúc) đọc như chữ lao.                                       

:

~Từ hải (ĐL), Q. thượng, trang 1497, ghi:

山 海 經 < 中 山 經>: „雲 山有 桂 竹 „按 文 選, 左 思 <吳 都 賦>: “ 其竹 則 篔 簹, 箖 箊, 桂 箭 ,射 筒 „. 注 : „桂 竹 大者 園 二尺 長 四五丈 又 桂 竹 甚 毒 傷 人 必 死“. 見 竹 譜

Sơn Hải Kinh, <Nam Kinh. Vân sơn>:

„Vân sơn hữu quế trúc“. Án „Văn Tuyển, Tả Tư <Ngô đô phú>:“ Kỳ trúc tắc vân đương, lâm ư, quế tiễn, xạ đồng“. Chú „Quế trúc đại giả viên nhị xích, trường tứ ngũ trượng, hựu quế trúc thậm độc, thương nhân tất tử“. Kiến „Trúc phổ“

Dịch:

Sách Sơn Hải Kinh, phần Trung sơn, núi Vân sơn chép: „Vùng núi Vân sơn có quế trúc“ Xét: Trong Văn Tuyển, Kinh đô phú,<Ngô đô phú> của Tả Tư (Tác giả bài phú) chép: „Trúc của vùng này là vân đương, lâm ư, quế tiễn, xạ đồng“. Chú: „Loại quế trúc lớn thân tròn hai tấc,  cao chừng bốn, năm trượng. Lại nữa, quế trúc rất độc, người bị thương phạm (do quế trúc) ắt chết. Xem thêm Trúc Phổ.

//

Tôn Quyền nhà Ngô, thời Tam quốc  lập kinh đô ở Kiến nghiệp.

Lưu Bị, nhà Thục, lập kinh đô ở Ích châu.

Tào Tháo, nhà Ngụy, kinh đô ở đất Nghiệp.

//

[XT chú thêm về các loại trúc ghi trong đoạn văn dẫn trích (sách Văn Tuyển) ở trên

-Vân đương 篔簹: 

~Theo Thiều Chửu (Hán Việt Tự Điển, trúc bộ, trang 467)  là loại tre lớn, dài, người Việt gọi là tre lộc ngộc (tre la ngà?) 

~ Từ Nguyên (BK), Q. hạ, trúc bộ, trang 2370 :

竹 名

皮 薄 節 長 而 竿 高 漢 楊 孚 異 物 志 篔簹 生水 邊,長 數丈,園 一 尺 五 六 寸. 一 節 相 去六七 尺 或 相 去 一 丈 . 廬陵 界 有之.

唐柳 宗 元柳 先 生集 四 三 構 法 華 寺西亭 詩 涵 萏 溢 嘉 色篔簹遺 清 班

Trúc danh. Bì bạc, tiết trường nhi can cao. Hán. Dương Phù, Dị Vật chí: “Vân đang sinh thủy biên, trường sổ trượng, viên nhất xích ngũ lục thốn. Nhất tiết tương khứ lục thất xích, hoặc tương khứ nhất trượng. Lô lăng giới hữu chi”.

Đường. Liễu Tông Nguyên, Liễu Tiên sinh tập, tứ tam, Cấu Pháp hoa tự Tây đình thi: “Hạm đạm dật gia sắc, vân đương di thanh ban” 

Vân đương, tên một loại trúc.

Vỏ trúc mỏng, mắt trúc dài mà lóng cao. Dương Phù đời Hán trong Dị Vật chí nói: “Trúc vân đang mọc bên bờ nước,  cao nhiều thước, lóng trúc tròn chừng một tấc năm hay tấc sáu. Lóng trúc mọc dài chừng sáu đén bảy tấc,  hoặc dài đến cả một thuớc. Vùng Lư Lăng có loại trúc này.”

Liễu Tông Nguyên đời Đường trong Liễu Tiên sinh tập,  34, bài Cấu Pháp hoa tự tây đình” có câu: “ Hoa sen thêm màu sắc, vân đương để đốm xanh”                          

Các loại trúc ghi tiếp sau đây, thường dẫn tử Từ Nguyên (BK), Q. hạ, bộ trúc. Sau khi giải thích, sách thường có dẫn Văn Tuyển, Tả Thái Xung (Tư) trong bài Ngô đô phú, cũng như chú thích của Lưu Lục. 

-Lâm ư:

Lâm và lâm ư: Từ Nguyên (BK), Q. hạ, trang 2362

箖

箖 竹 : 筍 味 甚 美 竹 漸 長 只 梢 上 有葉 極 高可 作 幡 竿

箖 箊

竹 名 吳 越 春 秋九,句 踐 陰 謀 外 傳 記 哀 公 與 越 女試 劍 事哀 公 以 箖 箊 竹 為劍 試 時 飛 上 樹 變 為白猿

文 選 晉 左 太 沖 思 吳 都 賦 :

„其竹 則 篔 簹,箖 箊,竹 箭, 射 筒.“

注 : “ 箖 箊 是哀 公所與越 女試 劍 竹 者 也 „

Lâm: lâm trúc. Duẩn vị thậm mỹ. Trúc tiệm trưởng, chỉ sao thượng hữu diệp, cực cao, khả tác phiên can…

Lâm ư:

Trúc danh. Ngô Việt Xuân Thu, cửu, Câu Tiễn âm mưu ngoại truyện, ký: “Ai công dữ Việt nữ thí kiếm sự, Ai công dĩ lâm ư vi kiếm, thí thời phi thượng thụ, biến vi bạch viên”.

Văn Tuyển, Tấn. Tả Thái Xung (Tư) Ngô đô phú:” Kỳ trúc tắc vân đương, lâm ư, quế tiễn, xạ đồng…”

Chú: Lâm ư thị Ai công dữ Việt nữ thí kiếm trúc giả dã”.

Dịch:

Từ „lâm“: Lâm là tên một loại trúc. Măng trúc lâm vị rất ngon, trúc lớn chậm, chỉ phần ngọn có lá, rất cao, thường dùng làm hàng rào.

Lâm ư là tên một loại trúc. Sách Ngô Việt Xuân Thu, chín, phần Câu Tiễn âm mưu ngoại truyện“ chéo: Vua Ai công cùng vguuoo2i nữ nước Việ cùng đấu kiếm, Ai công dùng kiếm làm bằng tre lâm ư, khi thi đấu phi tân lên ngọn cây, hóa thành con vượn trắng“.

Văn Truyên, Tả Thái Xung (Tư) trong Ngô đô phú ghi: “Trúc xứ đó có loại trúc như vân đương, lâm ư, quế, tiễn, xạ đồng…“

 -Quế: đây chỉ quế trúc. 

-Tiễn: Tiễn trúc.

Từ Nguyên (BK), Q. hạ, trang 2366:

箭 竹

竹 的 一種 晉 戴 凱 之竹 譜 箭 竹 高者不過 一丈 節 間三尺 堅勁 中矢江 南 諸 山皆 有之會 稽 所生最 精 好 故爾 雅云東南 之美 者有會 稽 之竹 箭 焉

Tiễn trúc:

Trúc đích nhất chủng. Tấn. Đái Khải Chi Trúc phổ: “Tiễn trúc cao giả bất quá nhất trượng, tiết gian tam xích, kiên kính trung thỉ, Giang nam chư sơn giai hữu chi, Cối Kê sở sinh tối tinh hảo. Cố Nhĩ Nhã vân: “Đông nam chi mỹ giả, hữu Cối kê chi trúc tiễn yên“.

Dịch:

Tiễn trúc: Tên một loại trúc. Đái Khải Chi đời Tấn trong Trúc phổ ghi: „Tiễn trúc (Loại cây tre nhỏ) cao không quá một thước, khoản cách các đốt chừng ba tấc, ruột trúc cứng, vùng Giang nam đều có loại trúc này. Xứ Cối Kê sinh ra loại tiễn trúc rất tốt, cho nên trong Nhĩ Nhã nói: „Cái tốt hay ở vùng đông nam, là tiễn trúc ở vùng Cối Kê“

(Trong Văn Tuyển có ghi: Tiễn trúc, thân nhỏ mà ruột cứng dài, lớn chừng hơn một thước, lại không có đốt,  có thể dùng làm tên bắn. Đốt trúc liền nhau không có mắt, các quận vùng Giang đông đều có loại trúc này- Xem trích ở trên).

 

-Lật trúc: Dẫn Từ Nguyên (BK), Q. hạ, trang 2369

篥 竹

竹 之一種 . 北 魏 賈思 勰 <齊 民要 術 十, 竹>, 吳 錄 曰 日南有篥 竹 勁 利 削 為矛

按篥 竹 當為 篻 竹 之誤 詳 篻

Lật trúc:

Trúc chi nhất chủng. Bắc triều. Giả Tư Hiệp, Tề dân Yếu thuật, thập, Trúc: „Ngô Lục viết: Nhật nam hữu lật trúc, kính lợi, tước vi mâu“. Án lật trúc đương vi phiêu trúc chi ngộ. Tường phiêu.

Lật trúc, tên một loại trúc.

Giả Tư Hiệp thời Bắc triều trong Tề Dân Yếu Thuật, 10, về trúc ghi: „Ngô Lục nói, Vùng Nhật nam có loại lật trúc,  ruột chắc sắc, bén, có thể làm cái mâu“.

Xét thấy lật trúc có thể ghi lầm từ phiêu trúc (chừ lật 篥và phiêu 篻thoạt nhìn có vẻ tương tự) 

-Xạ đồng

Dẫn Từ Nguyên (BK), Q. thượng, trang 872:

射 筒

竹 名

其竹 細 小 通 長 無 節 可作 射 箭 故 名

見 文 選 左 太 沖 思 吳 都 賦 注 „其竹 則 篔 簹,箖 箊,桂 箭, 射 筒.“

Xạ đồng Trúc danh.

Kỳ trúc tử tiểu thông trường, vô tiết, khả tác xạ tiễn, cố danh. Kiến Văn Tuyển, Tả Thái Xung, Tư <Ngô đô phú>: „Kỳ trúc tắc vân đương, lâm ư, quế, tiễn, xạ đồng…“

Xạ đồng: tên một loại trúc.

Loại trúc này tương đối nhỏ, thông ruột, không có mắt,  nên có thể làm mũi tên, do vây mà có tên xạ đồng. Xem Văn Tuyển, Tả Thái Xung (Tư),<Ngô đô phú>: „Trúc của vùng này có trúc vân đương,  lâm ư, quế, tiễn, xạ đồng…“ 

-Dữu ngô柚 梧 :

Theo Thiều Chửu, chữ đọc là dữu, âm đọc thứ nhất theo Từ Nguyên

Từ Nguyên (BK), Q. thượng, trang 1550 ghi đọc là dữu, âm đọc thứ hai :

Yóu

集 韻 夷 周 切 平 尤 韻

竹 的一種

文 選 晉 左 太 沖 思吳 都賦

其竹 則 篔 簹,箖 箊,竹 箭, 射 筒. 柚 梧 有 篁 篻 有叢

也 作 由 梧

北 魏 賈思 勰 齊 民要 術 十

晉嵇 含 南 方 草 木 狀 曰 由 梧 竹 使 民  家種 之 長 三 四丈 園一 尺 八 九 寸 作 屋 柱 出 交 趾

Tập vận : Di châu thiết, bình, vưu vận.

Dữu ngô : Trúc đích nhất chủng. Văn tuyển, Tả Thái xung (Tư)<Ngô đô phú> : „Kỳ trúc tắc vân đáng, lâm ư, quế, tiển, xạ đông, dữu ngô hữu hoàng, phiêu lao hữu tùng »

Dã tác do ngô

Bắc Ngụy, Giả Tư Hiệp,<Tề Dân Yếu Thuật>, thập: “(Tấn. Kê Hàm) “Nam phương Thảo mộc trạng” viết: „Do ngô trúc, sử dân gia chủng chi. Trường tam tứ trượng, viên nhất xích bát cửu thốn. Tác ốc trụ. Xuất Giao chỉ” 

Dữu

Sách Tập vận ghi: Đọc ghép hai chữ di và châu, bình thanh, vần chữ vưu.

Một giống trúc.

Văn tuyển, Tả Thái xung (Tư)<Ngô đô phú> : „Trúc của vùng này có trúc vân đương,  lâm ư, quế, tiễn, xạ đồng, trúc dữu ngô, phiêu lao từng rừng, đám“…

Còn được viết là do ngô.

Giả Tư Hiệp thời Bắc Ngụy trong Tề Dân Yếu Thuật, (dẫn Kê Hàm thời Tấn) chép : »Về trúc do ngô, lệnh khiến dân trồng trúc đó, trúc cao ba đến bốn thước, ống trúc tròn lớn chừng một tấc tám hay tấc chín. Làm cột nhà được. Gốc ở Giao chỉ » 

-Lao trúc: Theo Từ Nguyên (BK), Q. hạ, trang 2373:

簩 竹

竹 之一種

又 名百 葉 竹

文 選 晉 左 太 沖 思 吳 都 賦 „柚 梧 有 篁 簩 篻 有叢“

„簩 竹 有毒 ,夷 人以 為 觚 ,刺 獸 中之, 則 必 死“

Lao trúc: Trúc chi nhất chủng

Hựu danh Bách diệp trúc.

Văn Tuyển, Tấn. Tả Thái Xung (Tư),<Ngô đô phú>: “Dữu ngô hữu hoàng, lao phiêu hữu tùng”. Chú dẫn Dị Vật chí: „Lao trúc hữu  dộc, di nhân dĩ vi cô, thích thú, trúng chi tắc tất tử.“

Lao trúc: Một giống trúc.

Còn có tên là bách diệp trúc (Trúc trăm lá).

Văn tuyển, Tả Thái xung (Tư)<Ngô đô phú> : Trúc của vùng này có … trúc dữu ngô, phiêu lao từng rừng, đám“ . Phần chú, dẫn sách Dị Vật chí:…“Lao trúc độc, người di (thượng) dùng trúc chế cái giáo, đâm thú rừng, thú trúng phải, ắt chết“.

 

-Phiêu trúc:

Theo Từ Nguyên (BK), Q. hạ, trang 2371:

Chú âm của Từ Nguyên: piăo

敷 沼 切 上小 韻 滂

彌 遙 切 平 宵 韻 明

篻 竹

 

竹 名 卽 筋 竹

可制 製 為 努 失方 戟 等武 器.                                                                                                                                                                       

文 選 晉 左 太 沖 思 吳 都 賦 „柚 梧 有 篁 簩 篻 有叢“

劉 陸 注引 異 物 志. 篻 竹 大 如 戟 矝, 實 中 勁 強,交 趾 人銳 以 為矛, 甚 利

Phiểu (?) Phô chiểu thiết, tiểu vận, bàng (p)

Di diêu thiết, bình, tiêu vận, minh

 

Phiêu trúc  hay phiểu trúc (?):

Trúc danh, tức cân trúc, khả chế vi nỗ thỉ, phương kích đẵng vũ khí.

Văn Tuyển, Tấn. Tả Thái Xung (Tư),<Ngô đô phú>: “Dữu ngô hữu hoàng, lao phiêu hữu tùng”. Lưu Lục chú, dẫn Dị vật chí: “Phiêu trúc đại như kích căng, thực trung kính cường, Giao chỉ nhân duệ dĩ vi mâu, thậm lợi“.                          

 Đọc ghép hai chữ phô và chiểu, thượng thanh, vần của chữ tiểu, âm đầu (p,b)

Đọc ghép hai chữ di và diêu, bình thanh, vần của chữ tiêu, âm đầu (m)

Phiêu trúc là tên một loại trúc, tức là cân trúc, có thể làm cung tên để bắn, giáo mác các loại vũ khí.

Văn tuyển, Tấn, Tả Thái Xung (Tư)<Ngô đô phú> : Trúc của vùng này có trúc … dữu ngô, phiêu lao từng rừng, đám“. Lưu Lục chú, dẫn Dị Vật chí. „Ngô trúc đều mọc ở vùng Giao chỉ, Cửu chân. Phiêu trúc lớn cở như cái xà mâu hay giáo. Ruột cứng và đặc, người Giao chỉ mứt nhọn để làm cái xà mâu, rất sắc (bén).“ 

[XT chú

Quế trúc ghi trong Sơn Hải Kinh là loại trúc chứa độc chất, bị thương phạm sẽ dẫn đến tử vong. 

Tuy nhiên, trong giải thích của Tạ Thạnh Vân đã ghi ở trên không thấy nói đến việc đó.

Trong truyện có ghi là cây quế trúc được dùng như cái chỗi tự động quét sạch chỗ Tô Tiên công lui tới, xem đó trúc ấy thục ra không có gì đáng ngại.

                                                                                                    Từ Hải (TH), Q. trung, trang 3386 giải thích về quế trúc như sau:

Quế trúc

桂 竹 (Phyllostachys bambussoides)亦 稱 „斑 竹“,“ 麥 黃 竹“. 禾 本 科 .稈 散 生, 較 大,園 筒 形, 稈 環 顯 著 隆 起, 稈 上 部 每 節 有 二 分 枝 ,叶 披 針 形 ,叶鞘 無 毛. 筍 籜 背 面 有 褐 色, 斑 點 疏 生毛,頂 端 有 微 小 的 籜 耳 .主 要 產 于我 國 黃 河 流 域 及以 南各 地 .竹 稈 供 建 筑 ,篾 器 等用 .筍 可食.其 變 型 „斑 竹“, 亦 稱 „湘 妃 竹“ ,“ 湘 竹“, 稈 皮 有 紫 褐 色, 或 淡 褐 色 的 斑 點, 栽 培 供 觀 賞.

Quế trúc (Phyllostachys bambussoides)

Diệc xưng ban trúc, mạch hoàng trúc, hòa bản khoa. Cán tán sinh, giểu đại, viên đồng hình, cán hoàn hiển trước long khởi, cán thượng bộ mỗi tiết hữu nhị phân chi, hiệp phi châm hình, hiệp sao vô mao. Duẫn thác giai diện hữu hạc sắc, ban điểm sơ sinh mao,  đỉnh đoan hữu vi tiểu đích hạc nhĩ. Chủ yếu sản sinh ngã quốc Hoàng Hà lưu vực cập dĩ nam các địa. Trúc cán cung kiến trúc, miệt khí đẵng dụng. Duẫn khả dĩ thực. Kỳ biến hình ban trúc, diệc xưng Tương phi trúc, Tương trúc, cán bì hữu tử hạc sắc hoặc đạm hạc sắc đích ban điểm, tài bồi cung quan thưởng. 

Quế trúc:

Tạm dịch

Tên Latin (Phyllostachys bambussoides)

Cũng còn gọi lá ban trúc, mạch hoàng trúc. Thuộc họ hòa (giống có thân lúa). Thân nứt nhánh, khá lớn, thân trúc hình tròn. Chỗ mắt (giữa các lóng trúc) bắt đẫu phát triển, phần trên thân trúc chỗ các mắt trúc phân hai nhánh, cùng  tách ra như hình cây kim, tụ lại như cái bao, không có lông. Các mo măng trúc có đốm phần trên măt màu sẫm vàng hay vàng nhạc, trên đầu măng trúc hai bên tai có  đốm sắc vàng. Chủ yếu quế trúc mọc ở lưu vực sông Hoàng Hà,  cũng như vùng đất phía nam. Thân cây tre quế trúc cung cấp cho công việc kiến trúc nhà cửa, đan làm các dụng cụ thường dùng. Măng quế trúc có thể ăn được. Hình thể trúc có vân gọi là ban trúc hay còn gọi là Tương phi trúc. Tương trúc. Thân trúc có vân hay đốm màu vàng tím hay vàng nhạt, có thể vun trồng làm vật thưởng ngoạn.

Ban trúc, xem thêm giải thích ở trên 

[Về trúc, xem thêm:

~Thái Bình Quảng Ký, Đệ tứ sách, quyển 962 , từ trang 4269 đến trang 4276 trang.

(Trang 4273 về quế trúc, dẫn Sơn Hải Kinh) 

~Lĩnh Ngoại Đại Đáp, Trúc, trang 296-299 

~Quảng đông Tân ngữ, Trúc, Q. hạ, quyển 27, Thảo ngữ, Trúc, trang 683-686 

Đặc biệt Lý Thời Trân, Y Học Toàn thư, Bản Thảo Cương Mục đệ tam thập thất quyển, từ trang 947 dến trang 950.

Trang 947 dẫn Đái Khải Chi trong Trúc phổ ghi:

植 物 之 中 有名 曰 竹 非草 非木小異 實 虛 大同 節 目

„Thực vật chi trung, hữu danh viết trúc, phi thảo phi mộc, tiểu dị thực hư, đại đồng tiết mục“

Trong giống cây cỏ, có tên gọi là trúc, không cứng không mềm, (loại) không phải cỏ mà không phải cây, chia ra nhánh khác, trái không ruột, lóng (đốt) đều nhau, có mắt (trúc). 

Lý Thời Trân (trong Bản Thảo Cương Mục, hạ sách, q. 37, từ trang 2163 đến trang 2170, đã giải thích cặn kẻ các loại trúc, phân tích kết cấu cây trúc, công dụng về thuốc của loại trúc nào … Trúc 60 năm có hoa, hoa kết trái (rỗng ruột), trúc ra hoa, cây khô và chết.

Rất tiếc là phạm vi bài  viết có hạn, người đọc có thể tham khảo sách đã dẫn.

Quế trúc có thể dùng để đóng tàu, ghe! (trang 947 sách Y Học Toàn Thư)

 ~ Loại tuyển, q. 277, từ trang 601

           

           

             [Về câu „… Mỗi chí Giáp Tí nhật…“

Giáp Tí chỉ : Giáp là can đầu trong thập can (thiên can):

Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm và Quí

Tí: Chỉ chi đầu trong thập nhị chi (địa chi).

Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi Thân, Dậu, Tuất và Hợi.

Đó là qui định của lịch truyền thống của Trung quốc (và cũng của Việt nam).

Năm

1.Giáp TíàẤt Sửu à Bính Dần à Đinh Mão àMậu Thìn à Kỷ Tị à Canh Ngọ àTân Mùi à Nhâm Thân à Quí Dậu àGiáp Tuất à Ất Hợi  (Hết chu kỳ 12 con Giáp)

2.Bính Tí à Đinh Sửu…..

Như vậy qua 5 chu kỳ, tức 60 năm thì bắt dấu vào chu kỳ mới, lặp lại danh xưng của năm.

Đại khái là sự phối hợp giữa can và chi sẽ lặp lại giống như trước đó trong vòng 60 năm. Từ Giáp Tí thứ nhất cho tới Giáp Tí tới chẵn 60 năm.  

C.    Thư Mục Tham khảo 

Hán Việt Tự Điển漢 越 字 典 , Thiều Chửu, nhà in Đuốc Tuệ, Hà Nội 1942, bản in lại của nhà XB Khai Trí Sài Gòn (Sách tự đóng bìa cứng, mất năm in). 1 quyển, 817 trang, cộng thêm 92 trang về tra chữ theo ABC, âm Hán Việt 

Khang Hy Tự Điển康 煕 字 典 , Thượng Hải Thư Điếm xb 上 海 書  店, TQ  (Trung Quốc) 1985, sơ bản . 1 quyển, 1875 trang; cộng: Tứ giác hiệu mã tra tự biểu 四 角 號碼 查 字  表175 trang  

Từ Hải 辭 海, Thượng Hải Từ Điển Xuất Bản Xã 上 海 辭 典 出 版 社 , TQ  1989, sơ bản. 3 quyển, chữ giản thể (phụ phiền thể). Tra theo bộ thủ (Từ Hải Bộ Thủ Biểu 辭 海 部 首 表, 250 bộ) 5727 trang (kể cả  Phụ Lục 附 錄  từ trang 5427 đến trang 5727 ). Viết tắt: Từ Hải (TH)

.

Từ Hải 辭 海 , Trung Hoa Thư Cục xb 中 華 書 局, ĐL (Đài Loan) 1967, sơ bản. 2 quyển. Sách ghi theo thứ tự 12 chi, từ Tí đến Hợi. Trang số ghi liên tục và đồng thời ghi theo từng chi, 3398 trang. Viết tắt Từ Hải (ĐL) 

Từ Nguyên 辭 源 , Thương Vụ Ấn Thư Quán 商 務 印 書 舘, Bắc kinh, TQ 1997, bản in lần thứ 4. 2 quyển, 3620 trang (in trên giấy mỏng: q. 1: 1706 trang). Viết tắc Từ Nguyên (BK) 

Trung Quốc Nhân Danh Đại Từ Điển 中 國 人 名  大 辭 典, Tàng Lệ Hòa... chủ biên 藏 勵 龢 , Thượng Hải Thư Điếm xb 上 海 書 店, TQ 1984, bản in lần thứ 2. 1 quyển 

Trung Quốc Cổ Kim Địa Danh Đại Từ Điển 中 國 古 今 地 名 大 辭  典, Tàng Lệ Hòa 藏 勵 龢...biên soạn, Thương Vụ Ấn Thư Quán xb 商 務 印 書 舘, HK 1982, bản in lần thứ 2. 1 quyển 

Trung Quốc Địa Danh Từ Điển 中 國 地 名 辭 典, Thượng Hải Từ Thư XB Xã xb 上 海 辭 書 出 版 社, TQ 1990, bản in lần thứ 2. 1 quyển, chính văn 975 trang; cộng: Từ mục biểu 詞 目表 68 trang in ở đầu sách, Phụ lục 附 錄  33 trang. Ghi theo bút hoạch.   

Trung Quốc Thần Thoại Truyền Thuyết Từ Điển 中 國 神 話 傳 說 辭 典, Ai Hà chủ biên 哀 珂 主 編 , Thượng Hải Từ Thư XB Xã xb 上 海 辭 書 出 版 社, TQ 1985, sơ bản. 1 quyển, 540 trang 

Bản Thảo Cương Mục 本 草 綱 目, Minh. Lý Thì Trân trứ 明 .李 時 珍 著, Nhân Dân Vệ Sinh XB Xã xb 人 民  衛  生 出 版 社 出 版, TQ 1992. 2 quyển, cộng 2977 trang 

Chu Lễ 周 禮, Nghi Lễ 儀 禮 , Lễ Ký 禮 記, Nhạc Lộc Thư Xã xb 嶽 麓 書 社, TQ 1997, bản in lần thứ 5. 1 quyển, 552 trang 

Cổ Tịch Tri Thức Thủ Sách古 籍 知 識 手 冊,  Cao Chấn Phong chủ biên 高 振 鋒 主 編, Sơn Đông Giáo Dục XB Xã xb 山 東 教 育 出 版 社 出 版, TQ 1988, sơ bản. 1 quyển , 1495 Trang

Lý Thì Trân Y Học Toàn Thư 李 時 珍, Minh. Lý Thì Trân biên trứ 明 . 李 時 珍 著, Trung Quốc Trung Y Dược Xb Xã xb 中 國 醫 藥 出 版 社, Bắc kinh 1996. 1 quyển (Gồm có: Bản Thảo cương Mục 本 草 綱 目, 1238 trang;  Tần Hồ Mạch Học 瀕 湖 脈 學: 12 trang;  Kỳ Kinh Bát Mạch Khảo 奇 經 八 脈 考: 18 trang; Mạch  Quyết Khảo Chứng 脈 訣 考 証, 3 trang. Tổng cộng 1272 trang

 

Liêu Trai Chí Dị 聊 齋 志 異 , Thanh. Bồ Tùng Linh trứ 清 . 蒲 松 齡 著, Tinh Châu Thế Giới Thư Cục xb 星 州 世 界 書 局 有 限 公 司 出 版, Tân Gia Ba 新 加 坡  không đề năm in. 3 quyển, cộng 1232 trang 

Lĩnh Ngoại Đại Đáp Hiệu Chú Tống 嶺 外 代 答 校 注. Chu Khứ Phi trứ 周 去 非 著 , Dương Vũ Tuyền hiệu chú 楊 武 泉 校 注 ,  Trung Hoa Thư Cục xb, TQ 1999 中 華 書 局 出 版, sơ bản. 1 quyển, 483 trang (kể cả phần Sách Dẫn) 

Mao Thi Chính Nghĩa 毛 詩 正 義, Hán. Mao Công truyện 漢 .毛 公 傳, Trịnh Huyền tiên 鄭 玄 注 箋, Đường. Khổng Dĩnh Đạt đẵng chính nghĩa 唐 孔 穎 達 等 正 義, Thượng Hải Cổ Tịch XB Xã xb 上 海 古 籍 出 版 社, TQ 1990.sơ bản. 1 quyển, 808 trang   

Mao Thi  Cổ Âm Khảo 毛 詩 古 音 考, Minh. Trần Đệ trứ 明 . 陳 第 著,  Trung Hoa Thư Cục xb 中 華 書 局,  TQ 1988, sơ bản. 1 quyển, 221 trang; cộng: 23 trang Sách Dẫn

 

Mao Thi Trịnh Tiên Bình Nghị毛 詩 鄭 箋 平 議 , Hoàng Xước soạn 黃 焯 撰,Thượng Hải Cổ Tịch XB Xã xb 上 海 古 籍 出 版 社 出 版, TQ 1985, sơ bản. 1 quyển, 427 trang 

Quảng Đông Tân Ngữ 廣 東 新 語, Thanh. Khuất Đại Quân trứ 清.屈 大 均 著, Trung Hoa Thư Cục xb 中  華 詩 局 出 版, TQ 1985, sơ bản. 2 quyển, 736 trang (Minh Di tặng 

Sử Ký 史 記 , Hán. Tư Mã Thiên 漢 .司 馬 遷 soạn, Trung Hoa Thư Cục xb 中 華 書 局, TQ 1982, bản in lần thứ 2. 10 quyển, 3075 trang    

Sử Ký Chú Dịch 史 記 注 譯 , Vương Lợi Khí chủ biên 王 利 器 主 編 , Tam Tần XB Xã xb 三 秦 出 版 社 出 版 , TQ 1988, sơ bản. 4 quyển, 2804 trang; cộng: Sử Ký Chú Dịch tổng mục lục 5 trang 

Sơn Hải Kinh 山 海 經,  Mục Thiên Tử Truyện 穆 天子 傳, Tấn. Quách Phác chú 晉 郭 璞, Nhạc Lộc Thư Xã xb 嶽 麓 書 社 , TQ 1992, sơ bản. 1 quyển, 412 Trang 

Sơn Hải Kinh Tiên Sớ 山 海 經 箋 疏 , Thanh. Hác Ý Hành trứ 清 . 郝 懿 行, Trung Quốc Thư Điếm xb 中 國 書 店 出 版 , TQ 1991, sơ bản. 1 quyển, số trang ghi theo quyển số 

Thái Bình Ngự Lãm 太 平 御 覽, Tống. Lý Phưởng đẵng soạn 宋 李 昉 撰,  Trung Hoa Thư Cục XB phát hành 中 華 書 局 出 版 發 行, TQ 2011, bản in lần thư 8, ảnh ấn. 4 sách (quyển bộ), 4426 trang, cộng 2 trang phụ. 

Thái Bình Quảng Ký 太 平 廣 記, Tống. Lý Phưởng đẵng biên 宋 . 李 昉 等 編,  Trung Hoa Thư Cục XB Xã phát hành 中 華 書 局 出 版 社 出 版, TQ 2011, bản in lần thứ 11. 10 sách, cộng 4106 trang 

Thần Tiên Truyện 神 仙 傳, Cát Hồng trứ 葛 洪 著, Tạ Thanh Vân 謝 青 雲Dịch chú,Trung Hoa Thư Cục XB, TQ 2017. 1  quyển, 442 trang 

Thi Kinh Trực Giải 詩 經 直 解, Trần Tử Triển soạn thuật 陳 子 展 撰 述, Phạm Tường Ung 范 祥 雍 , Đỗ Nguyệt Thôn hiệu   duyệt 杜 月 村 校 閱, Phục Đán Đại Học XB Xã xb 復 旦 大 學 出 版 社 出 版, TQ 1991, bản in lần thứ 3. 2 quyển, 1220 trang 

Thủy Kinh Chú 水 經 注, Bắc Ngụy. Li Đạo Nguyên soạn 酈 道 元 撰 , Nhạc Lộc Thư Xã xb 嶽 麓 書 社 , TQ 1996, bản in lần thứ 3. 1 quyển, 596 trang

Thủy Kinh Chú Sớ 水 經 注 疏,  Bắc Ngụy. Li Đạo Nguyên chú 北魏 麗 道 原 , Dân Quốc. Dương Thủ Kính, Hùng Hội Trinh sớ, Đoàn Hi Trọng hiệu, Trần Kiều Dịch phục hiệu 民 國. 楊 守 敬, 熊 會 貞 疏 ;段 熙 仲 校 ;陳 橋 驛 復 校 , Giang Tô Cổ Tịch XB Xã xb 江 蘇 出 版 社 出 版, TQ 1999, bản in lần thứ 2. 3 quyển, 3508 trang; cộng: Thủy Kinh Chú Sớ Thủy Danh Sách Dẫn 水 經 注 疏 水 名 索 引 62 trang (ghi theo bút hoạch 

Trung Quốc Độ Lượng Hành Sử 中 國 度 量 衡 史, Ngô Thừa Lạc (Ngô Lạc) trứ 吳 承 洛 著, Vương Vân Ngũ, Truyền Vĩ Bình chủ biên 王 雲 五, 傳 緯 平 主 編 , Thương Vụ Ấn Thư Quán xb 商 務 印  書 館 出 版, ĐL 2001, bản in lần thứ 5. 1 quyển, 392 trang 

Trung Quốc Thần Đích Cố Sự 中 國 神 的 故事 , Đoàn Đăng Quốc trứ 段 登 國 著,  Thế Giới Văn Vật XB Xã xb 世 界 文 物 出 版 社 , ĐL 1984, sơ bản. 1 quyển, 228 trang) 

Trung Quốc Lịch Sử Địa Đồ Tập 中 國 歷 史 地 圖 集,  Đàm Kỳ Tương chủ biên 譚 其 驤 主 編,  Địa Đồ XB Xã xb 地 圖 出 版 社 出 版, TQ 1985, bản in lần thứ 2. 8 quyển, số trang ghi theo từng quyển số 

Tứ Thư Kim Dịch 四 書 今 譯 , Giang Tây Nhân Dân XB Xã xb 江 西 人 民 出 版 社 , TQ 1986, sơ bản. 1 quyển, 307 trang 

Tứ Thư Ngũ Kinh 四 書 五 經, Bắc Kinh Cổ Tịch XB Xã xb 北 京 古 籍 出 版 社, TQ 1993, sơ bản. 2 quyển, 1612 trang 

Tứ Thư Ngũ Kinh 四 書 五 經, Tống. Nguyên. - Nhân chú 宋 . 元 . - 人 注 , Trung Quốc Thư Điếm xb 中 國 書 店 出 版, Bắc Kinh, TQ 1987, bản in lần thứ 2. 3 quyển. Số trang ghi theo từng bộ thư hay kinh 

Văn Tuyển 文 選, Lương. Tiêu Thống biên 梁 蕭 統 編, Đường. Lý Thiện chú 唐 李 善 注,  Trung Hoa Thư Cục xb, TQ 1981, bản in lần thứ 2. 3 quyển, 982 trang; cộng: Văn Tuyển  Thiên Mục Cập Trứ Giả Sách Dẫn 28 trang 

                            Nguyễn Xuyên Trường, 22.09.2026